Khủng hoảng Tài chính tại Hoa Kỳ và Việt Nam
Thursday, 27. March 2008, 10:55:27
Trong tuần qua, nhiều dấu hiệu cho thấy vụ khủng hoảng tài chính tại Mỹ có vẻ tạm lắng dịu, nhưng các thị trường vẫn chờ đợi nhiều đột biến vẫn có thể bất ngờ bùng nổ. Diễn đàn Kinh tế kỳ này sẽ tìm hiểu về những nguyên nhân sâu xa của vụ khủng hoảng qua phần trao đổi sau đây cùng kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa, sẽ do Việt Long thực hiện hầu quý độc giả.
Các chính sách của Ngân hàng Trung ương
Việt Long: Thưa ông Nguyễn Xuân Nghĩa, sau khi Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ bất ngờ tung ra biện pháp phối hợp để cấp cứu ngân hàng đầu tư Bear Sterns vào Chủ Nhật 16 - là điều chúng ta đã tìm hiểu trong chương trình tuần trước - thì trong suốt một tuần, tình hình kinh tế tài chính Hoa Kỳ đã có vẻ khả quan hơn, khiến các thị trường chứng khoán Hoa Kỳ và thế giới đều phục hồi và tăng giá - trừ thị trường Việt Nam.
Nhân lúc này khi tình hình có vẻ lắng dịu, ít ra trong ngắn hạn, chúng tôi xin đề nghị là ta sẽ tìm hiểu về những nguyên nhân khiến hệ thống tài chính và ngân hàng Mỹ đã bị khủng hoảng như vậy, để xem có những gì mà Việt Nam có thể rút kinh nghiệm được chăng?
Câu hỏi đầu tiên của chúng tôi là Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ đã có những biện pháp gì để tạm đẩy lui nguy cơ khủng hoảng?
Nguyễn Xuân Nghĩa: Trong một kỳ trước, ta đã có dịp nói đến cuộc Tổng khủng hoảng trong các năm 1929-1933 đã từ Hoa Kỳ lan rộng ra thế giới. Một giáo sư kinh tế đã dành nhiều công sức nghiên cứu lại vụ tổng khủng hoảng này và kết luận rằng khủng hoảng kinh tế sở dĩ xảy ra vì những sai lầm về chính sách của Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ.
Khi ấy, nhà nghiên cứu kinh tế đó đang ngồi trong Hội đồng Thống đốc của hệ thống Ngân hàng Trung ương Mỹ. Ngày nay, ông ta đang là Thống đốc của ngân hàng đó, tức là Chủ tịch Hội đồng Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ Ben Bernanke.
Người đã dày công nghiên cứu vụ Tổng khủng hoảng để rút tỉa bài học cho hậu thế nay có cơ hội áp dụng ngay những bài học đó trong mấy tháng vừa qua, khi viễn ảnh của một vụ khủng hoảng lan rộng đang trở thành hiện thực.
Một cách cụ thể, Ngân hàng Trung ương và các giới chức hữu trách về kinh tế tài chính Hoa Kỳ đã tung ra những biện pháp sau đây.
Thứ nhất là cắt giảm lãi suất ngắn hạn một cách liên tục và táo bạo. Thứ Ba tuần trước khi chúng ta đang thực hiện chương trình này thì lãi suất liên ngân hàng đã giảm 75 điểm và ở mức 2,25%. Hạ lãi suất một lúc 75 điểm là điều hãn hữu mà ông Bernanke đã làm hai lần kể từ tháng Chín tới nay.
Lãi suất ngắn hạn của Hoa Kỳ đang thực tế ở số âm nếu so sánh với tỷ lệ lạm phát được ước lượng khoảng 2,20%. Đây là biện pháp cấp cứu kinh tế nhưng cũng giúp cho tiền tệ lưu thông được dồi dào hơn, nghĩa là có góp phần khai thông nạn cạn kiệt tín dụng của các ngân hàng.
Việt Long: Ngoài biện pháp hạ lãi suất thì những biện pháp khác nữa của ngân hàng trung ương Mỹ là gì?
Nguyễn Xuân Nghĩa: Có một số biện pháp rất chuyên môn đã được thi hành nhằm bơm thêm hiện kim cho các ngân hàng nhưng đáng chú ý nhất là việc nới rộng khung cửa cho vay thế chấp cho các ngân hàng đầu tư, là điều trước đây chỉ giành cho các ngân hàng thương mại.
Trong kỳ trước, nhân dịp tìm hiểu về việc Ngân hàng Trung ương Mỹ cấp cứu ngân hàng đầu tư Bear Sterns, chúng ta có nói đến một biện pháp rất cách mạng là cho các ngân hàng đầu tư hay các tổ hợp tài chính kinh doanh trên thị trường chứng phiếu cũng được yểm trợ tương tự như các ngân hàng thương mại.
Có một vấn đề hơi chuyên môn ở đây mà mình cần nói tới, là việc kiểm soát hoạt động của các ngân hàng thương mại Hoa Kỳ là thuộc phần vụ của Ngân hàng Trung ương, trong khi các tổ hợp tài chính hay ngân hàng đầu tư lại do Hội đồng Chứng khoán SEC của Mỹ kiểm soát và chi phối.
Biện pháp cấp cứu ngân hàng Bear Sterns và mở rộng khung cửa tài trợ của Ngân hàng Trung ương cho các tổ hợp tài chính này mới được gọi là cách mạng và cấp thời. Nó sẽ đòi hỏi nhiều quy định mới về luật lệ tài chính và ngân hàng tại Hoa Kỳ để kiểm soát các ngân hàng đầu tư và tổ hợp tài chính một cách chặt chẽ hơn.
Khủng hoảng tạm lui?
Việt Long: Có phải nhờ những biện pháp táo bạo ấy mà vụ khủng hoảng tài chính có vẻ đã tạm lui không?
Nguyễn Xuân Nghĩa: Người ta thấy như vậy qua việc thị trường chứng khoán đã tăng giá mạnh trong suốt tuần qua. Song song, đồng Mỹ kim đã hết tuột giá và vàng bỗng sụt giá mạnh. Ngoài ra, tin tức tương đối tốt đẹp hơn về thị trường gia cư cũng có thể phần nào trấn an dư luận và nếu chưa là một tia hy vọng thì ít nhất cũng tạm đẩy lui được sự hốt hoảng của thị trường.
Bây giờ dư luận chờ đợi xem Chính quyền, Quốc hội và Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ sẽ xử trí ra sao với việc cấp cứu thị trường tài chính và thị trường gia cư và sẽ chấn chỉnh luật lệ ra sao để không tái diễn chuyện này.
Xin tạm phân biệt cho dễ hiểu là ngân hàng thương mại chủ yếu phục vụ các thân chủ là cá nhân, còn khách hàng của các ngân hàng đầu tư hay tổ hợp tài chính là các doanh nghiệp. Ngân hàng thương mại mà phá sản thì dân chúng mất tiền. Ngân hàng đầu tư mà phá sản thì thì doanh nghiệp khốn đốn, sản xuất suy giảm và dân chúng cũng mất tiền.
Việt Long: Việc ấy dẫn chúng ta trở về đề mục chính, là vì sao một quốc gia tiên tiến như Hoa Kỳ lại để xảy ra một vụ khủng hoảng tài chính lớn lao khiến dư luận liên tưởng với sự hãi hùng đến vụ Tổng khủng hoảng tám chục năm về trước?
Nguyễn Xuân Nghĩa: Đây là một câu hỏi đã được giới kinh tế toàn cầu cùng tìm hiểu trong thời gian qua. Việc một ngân hàng kỳ cựu như Bear Sterns mà suýt nữa bị phá sản và các ngân hàng đầu tư khác đều phải lật đật trấn an thị trường là điều gì đó cực kỳ nghiêm trọng vì tâm lý hốt hoảng càng dễ gây ra khủng hoảng.
Nguyên nhân chính của vụ khủng hoảng có thể là tinh thần hồ hởi sảng của xã hội Hoa Kỳ khiến các cơ sở tài chính bất chấp rủi ro mà kinh doanh thiếu thận trọng. Trên thị trường tài chính, tâm lý lạc quan ấy khởi sự từ gần ba chục năm, lại được hỗ trợ bởi một số yếu tố thuận lợi là tiền rẻ, lãi suất thấp và doanh lợi tài chính quá dồi dào.
Chúng ta có thể liên tưởng đến trường hợp hồ hởi sảng của hệ thống ngân hàng hay thị trường chứng khoán tại Việt Nam, khi các ngân hàng cấp phát tín dụng bừa phứa với khối lượng ngày càng cao, và thị trường cổ phiếu tăng vọt thành bong bóng đầu cơ. Bây giờ bóng bể và ngân hàng thiếu thanh khoản có khi sẽ vỡ nợ.
Trên thế giới, những hiện tượng lạc quan thái quá và bong bóng đầu cơ ấy đã từng xảy ra ở nhiều nơi, trong nhiều thời kỳ khác nhau mà vì hoàn cảnh còn thuận lợi người ta chưa thấy sợ nên vẫn lao vào, cho tới khi bóng bể, nhạc lắng, mây chìm.
Khủng hoảng tín dụng, địa ốc
Việt Long: Ông nói tới hoàn cảnh thuận lợi ở Việt Nam, như tiền rẻ, lãi suất thấp, doanh lợi cao. Tại Hoa Kỳ thì cũng hồ hởi sảng hay là lạc quan thiếu cơ sở như vậy, và dựa vào đâu sinh ra tình trạng đó, và nó thể hiện như thế nào?
Nguyễn Xuân Nghĩa: Trước hết, vào những năm đầu của thập niên 80, dưới thời của Tổng thống Ronald Reagan, Hoa Kỳ có làn sóng giản chánh và giải tỏa luật lệ rất mạnh, cho phép các cơ sở kinh doanh phát huy sáng kiến để kiếm lời và bành trướng hoạt động hầu nâng cao sản xuất và tạo ra việc làm.
Trong các ngành bành trướng mạnh nhất có các ngân hàng và cơ sở tài chính. Họ phát huy sáng kiến để tìm ra khí cụ tài chính tinh vi hơn, hiện đại hơn và thu hoạch lớn nhờ những sáng kiến ấy. Nói nôm na là họ biến hoá vô lường và được tưởng thưởng rất lớn, lớn hơn các ngành khác. Từ 10% vào năm 1982, doanh lợi của ngành tài chính đã lên tới 40% của tổng số doanh lợi của các công ty Hoa Kỳ, vào năm ngoái, và giá trị cổ phiếu của họ thì tăng gấp ba.
Hoàn cảnh thuận lợi khi đó là trị giá cổ phiếu hay tài sản kinh doanh đã tăng đều trong gần hai chục năm, cho tới vụ bể bóng chứng khoán năm 2000. Yếu tố thuận lợi thứ hai là lạm phát bị đầy lui và lãi suất hạ, nhất là sau vụ khủng bố và nạn suy trầm nhẹ vào năm 2001.
Yếu tố thứ ba mà ít ai thấy ra là khi lãi suất ngắn hạn bắt đầu tăng thì Hoa Kỳ vẫn nhập khẩu được tiền tiết kiệm của các xứ khác đổ vào tìm cơ hội đầu tư trên thị trường Mỹ nên lãi suất dài hạn vẫn hạ. Cũng chính là lãi suất hạ đã thổi lên bong bóng gia cư địa ốc. Khi thị trường gia cư bị khựng, người ta mới chưng hửng khám phá những rủi ro tiềm ẩn bên trong hệ thống tài chính này.
Việt Long: Ông đang nói tới loại tín dụng địa ốc có nhiều rủi ro, gọi là sub-prime. Nhưng nếu là loại nợ đó thì chỉ có khoảng 500 tỷ đô la, trên thị trường tài chính Mỹ thì đâu có bao nhiêu, vì sao ngần ấy ngân hàng lại cùng bị điêu đứng?
Nguyễn Xuân Nghĩa: Ta có thể hình dung ra một cái kén hay một quy luật gọi là "gắp lửa bỏ tay người"! Tôi xin được giải thích cho rõ vì vấn đề này rất phức tạp rắc rối.
Trước hết là phép đòn bẩy trong kinh doanh. Khi làm ăn có lời, ai cũng có thể nghĩ đến việc vay thêm tiền để bành trướng hoạt động. Nếu vay thêm và trả xong tiền lời mà vẫn còn lời thì nên vay tiếp. Người ta gọi đó là tác dụng đòn bẩy nhờ tiền đi vay. Nhưng khi đi vay thì phải có gì đó làm vật đảm bảo.
Trong hệ thống tài chính Mỹ, vật đảm bảo này nhiều khi là một gói nợ hay một tờ giấy nợ, là một tài sản sẽ trở thành lưu hoạt, thành tiền mặt, khi đến kỳ đáo hạn.
Bây giờ, hãy tưởng tượng rằng gói nợ ấy là một cái kén có nhiều lớp, bên trong chứa mầm thối là loại nợ sub-prime. Công ty tài trợ địa ốc đã lấy tiền hoa hồng của khách hàng sau khi nắm lấy tờ giấy nợ của khách hàng, họ bán giấy nợ ấy cho một tổ hợp tài chính như gắp lửa bỏ vào tay người khác.
Tổ hợp này gom các giấy nợ đó thành gói như một cái kén, bên trong có đủ loại xấu tốt, và dùng đó làm tài sản cầm thế để vay thêm tiền tiếp tục kinh doanh trong lãnh vực khác.
Phương thức đối phó với khủng hoảng
Việt Long: Như vậy thì phức tạp thật, nhưng rồi người ta xử lý ra sao với cái kén ấy?
Nguyễn Xuân Nghĩa: Các ngân hàng và tổ hợp đầu tư tài chính đã trao đổi những của nợ hay kén thối ấy trong các quan hệ chằng chịt như tơ vò mà không thể biết đích xác bên trong là xấu tổt ra sao.
Các công ty chuyên về định giá tài sản cũng mù mờ không rõ và lại định giá theo kiểu lạc quan. Cho tới khi gói nợ ung thối ấy bị bể vì vụ khủng hoảng thật ra rất nhỏ của loại tín dụng thứ cấp sub-prime thì mọi người mới chưng hửng phát giác là tài sản mình nắm trong tay không có giá trị như vậy.
Rồi không còn ai muốn ôm lấy cục than hồng đó vì sợ bỏng tay. Khủng hoảng tín dụng thứ cấp dẫn tới khủng hoảng của thị trường vay nợ là thị trường trái phiếu. Kết quả là những ngân hàng hay cơ sở tài chính không có thanh khoản rơi vào hoàn cảnh gọi là vỡ nợ kỹ thuật, là có tài sản mà chưa thể chuyển ra hiện kim vì là nợ chưa đáo hạn.
Khi dân chúng lại hốt hoảng vì sợ ngân hàng mà vỡ nợ thì tiền ký thác của mình bị mất nên kéo nhau rút tiền thì ngân hàng phá sản!
Nếu hiểu vậy thì ta mới thấy việc cấp cứu ngân hàng Bear Sterns là quyết định gây hú vía! Mong là sẽ trấn an được thị trường chứ không gây phản ứng dây chuyền là ngần ấy cơ sở tài chính sẽ kéo nhau sụp đổ trong mối quan hệ tơ vò ấy.
Việt Long: Câu hỏi cuối, thưa ông, trong tuần qua, thị trường chứng khoán tại Việt Nam vẫn tuột giá và chỉ số VN-Index đã vừa tuột đáy 500 điểm khiến giới chức hữu trách thu hẹp biên độ giao dịch kể từ Thứ Năm này. Nhìn từ nguy cơ khủng hoảng tài chính và ngân hàng tại Hoa Kỳ, ông nghĩ sao về việc này?
Nguyễn Xuân Nghĩa: Thứ nhất, biện pháp cấp cứu thị trường của Tổng công ty quản lý vốn đầu tư SCIS rõ ràng là vô hiệu. Thứ hai, khi thu hẹp mức dao động trị giá cổ phiếu xuống 2% và chứng chỉ quỹ xuống 1%, người ta như muốn khép cửa để không ai chạy thoát.
Hãy tưởng tượng đến một hội trường bị cháy mà nhà chức trách lại đóng cửa để cứu hội trường thì những người bên trong sẽ bị cháy rụi, ít ra là cháy túi!
Thứ ba, hệ thống ngân hàng Việt Nam có những bất trắc còn nguy ngập hơn các ngân hàng Mỹ trong khi giới chức và luật pháp Việt Nam chưa đủ tinh vi để ứng phó nên đám cháy từ thị trường chứng khoán sẽ lây lan rất mạnh qua các ngân hàng.
Và sau cùng, lạm phát trong tháng qua đã không giảm mà còn tăng, gần 3% trong một tháng là điều chưa từng thấy từ hơn chục năm nay. Kết luận ở đây là tình hình sẽ còn bi đát hơn nữa cũng vì nhà nước Việt Nam vẫn chưa đủ khả năng quản lý một nền kinh tế còn quá mới mẻ đối với họ.
(Copy RFA)
Showing posts with label Khủng hoảng thị trường tài chính Mỹ. Show all posts
Showing posts with label Khủng hoảng thị trường tài chính Mỹ. Show all posts
Saturday, September 20, 2008
Friday, September 19, 2008
Cái chết của Lehman dưới góc nhìn của một người trong cuộc
Một người từng làm việc tại ngân hàng Lehman Brothers chia sẻ quan điểm về cái chết của ngân hàng đầu tư nổi tiếng Phố Wall này.
Cơn địa chấn “Lehman Brothers” (Lehman) đã đi vào lịch sử đối với giới đầu tư tài chính toàn cầu và chắc chắn sẽ còn tốn kém nhiều giấy mực của giới học thuật.
Theo quan điểm cá nhân của người viết, sự sụp đổ của Lehman bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, song có thể tổng hợp lại ở bốn nhóm nguyên nhân chính: các quyết định kinh doanh rủi ro, cách thức giải quyết khủng hoảng, sự không may mắn và các nhân tố khác.
Các quyết định kinh doanh rủi ro
Trước hết, có thể kết luận Lehman là nạn nhân của chính mình chứ không phải ai khác.
Ngân hàng đầu tư là một định chế tài chính có mức độ rủi ro rất cao và kiếm tiền thông qua quản trị rủi ro. Rủi ro cao đối với lĩnh vực bất động sản trong bối cảnh một cuộc khủng hoảng tín dụng toàn diện và khốc liệt trong lịch sử là nguyên nhân chính dẫn đến sự sụp đổ của một đế chế tài chính già cỗi 158 năm tuổi.
Trong một bài viết trước đây “Khủng hoảng nợ dưới chuẩn tại Mỹ: Từ A-Z”, người viết đã trình bày toàn cảnh về cuộc khủng hoảng tín dụng dưới chuẩn từ nguyên nhân, cách thức kiếm tiền của các ngân hàng đầu tư đến hậu quả gánh chịu của thị trường. Khủng hoảng tín dụng dưới chuẩn đã lan sang tín dụng trên chuẩn và toàn bộ thị trường tín dụng nói chung.
Lehman - cũng như các ngân hàng đầu tư khác - đã sử dụng nghiệp vụ chứng khoán hóa (securitisation) để biến các khoản cho vay mua bất động sản thành các gói trái phiếu có gốc bất động sản (MBS, MBO, CDO) đầy rủi ro cung cấp cho thị trường.
Khi nền kinh tế đi xuống, người vay tiền mua nhà không trả được các khoản vay mua nhà thì rủi ro tín dụng được chuyển sang các gói trái phiếu có các danh mục tín dụng bất động sản làm tài sản đảm bảo. Khủng hoảng càng gia tăng thì việc phát mại tài sản càng tăng làm giá bất động sản càng giảm. Điều này có nghĩa giá trị tài sản đảm bảo của trái phiếu càng giảm và rủi ro tín dụng càng tăng.
Vòng xoáy khủng hoảng cứ tiếp tục như vậy, làm cho giá chứng khoán sụt giảm mạnh. Các ngân hàng đầu tư mặc dù không nắm giữ toàn bộ rủi ro nhưng cũng trực tiếp hoặc gián tiếp duy trì một số danh mục chứng khoán liên quan đến bất động sản. Hậu quả là hàng loạt ngân hàng đầu tư lần lượt báo cáo các khoản lỗ kinh doanh.
Lehman là một trong những ngân hàng đầu tư tham gia sâu vào hoạt động chứng khoán hóa tín dụng bất động sản. Được tách ra từ American Express năm 1994, Lehman đã xây dựng cho mình một thương hiệu mạnh về các phẩm có thu nhập cố định nói chung và trái phiếu nói riêng. Sự dính líu sâu của Lehman vào lĩnh vực này là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến kết cục ngày hôm nay. Công bằng mà nói, Lehman đã lường trước được vấn đề và cố gắng không dính nhiều vào tín dụng bất động sản dưới chuẩn. Trong số danh mục liên quan đến bất động sản khoảng 60 tỷ USD thì tín dụng bất động sản dưới chuẩn chiếm dưới 2 tỷ USD. Tuy nhiên, với sự lan rộng của khủng hoảng tín dụng mà tín dụng dưới chuẩn chỉ là mồi lửa ban đầu thì Lehman đã không kịp thoát.
Ngoài các gói trái phiếu liên quan đến bất động sản, Lehman còn đầu tư trực tiếp hoặc gián tiếp vào bất động sản thương mại. Lehman có thể cấu trúc các giao dịch này thông qua cung cấp vốn nợ hoặc vốn chủ sở hữu cho các công ty con hoặc liên doanh đầu tư bất động sản. Khi thị trường bất động sản đi xuống thì các giá trị bất động sản thương mại này cũng giảm theo.
Tại thời điểm cuối tháng 8, Lehman nắm danh mục khoảng 52 tỷ USD liên quan đến bất động sản, trong đó 24 tỷ USD chứng khoán bất động sản nhà ở, 17 tỷ USD chứng khoán bất động sản thương mại và 11 tỷ đầu tư trực tiếp. So với tương quan tổng tài sản khoảng 600 tỷ USD và vốn chủ khoảng 20 tỷ USD thì đây là một danh mục lớn.
Giám đốc điều hành của Lehman, Dick Fuld, là người gắn bó tâm huyết với Lehman trong suốt 4 thập kỷ và là người chèo lái Lehman trong 14 năm qua. Vốn là người thận trọng, Ông đã giúp Lehman vượt qua cuộc khủng hoảng năm 1998 với sự sụp đổ của quỹ đầu cơ “Long-Term Capital Management” là một khách hàng lớn của Lehman. Chính cuộc khủng hoảng này đã giúp Lehman phát triển một chiến lược kinh doanh phù hợp cùng với một hệ thống quản trị rủi ro tốt nhất phố Wall. Tuy nhiên, sự bùng nổ kinh tế toàn cầu trong 3-4 năm gần đây cùng với chiến lược mở rộng đã làm Dick Fuld thay đổi chiến lược kinh doanh của Lehman sang các hoạt động rủi ro hơn trong đó có bất động sản.
Năm 2005, giám đốc toàn cầu phụ trách dòng sản phẩm có thu nhập cố định của Lehman là Michael Gelband đã phải ra đi vì có quan điểm trái ngược về chiến lược kinh doanh này. Tháng 6/2008, khi Lehman rơi vào đỉnh cao khó khăn của cuộc khủng hoảng tín dụng thì Michael Gelband được mời về vị trí giám đốc toàn cầu phụ trách thị trường vốn nhằm cứu vãn tình hình. Tuy nhiên, điều này đã quá muộn!
Cách thức giải quyết khủng hoảng
Công bằng mà nói cuộc khủng hoảng tín dụng đã làm hàng loạt tên tuổi đều rơi vào vòng xoáy chứ không chỉ có Lehman. Các ngân hàng UBS, Citi, Merrill Lynch, Bear Steans, Morgan Stanley, Freddie Mac, Fannie Mae đều gánh chịu các khoản lỗ nặng nề với tổng số lên tới hàng trăm tỷ USD. Số nhân viên sa thải tại các trung tâm tài chính lên tới hàng ngàn.
Ngay trước lúc Lehman hấp hối, hàng loạt các tên tuổi như Merrill Lynch, AIG, Washington Mutual cũng rơi vào tình trạng tương tự. Vậy tại sao chỉ có Lehman lại chịu một cái chết thảm như vậy?
Người viết cho rằng cách thức giải quyết khủng hoảng thiếu sáng suốt và thiếu quyết đoán của Ban lãnh đạo Lehman đã đẩy Lehman vào thế chân tường. Phải nói rằng vấn đề của Lehman là vấn đề không mới và đã được cảnh báo trong một thời gian dài. Trong 6 tháng gần đây, đã một vài lần tình hình của Lehman dậy sóng. Đặc biệt sau khi Bear Stearns ra đi thì thị trường đã đặt câu hỏi “Ai là người kế tiếp?”.
Nếu tính theo thứ tự quy mô Top 5 của ngân hàng đầu tư trên phố Wall, ai cũng biết đó là Lehman rồi mới đến Merrill Lynch, Morgan Stanley và cuối cùng Goldman Sachs. Ban lãnh đạo Lehman cũng đã có nhiều biện pháp giảm quy mô bảng cân đối một cách mạnh mẽ. Trong quý 2 và quý 3, quy mô tài sản của Lehman giảm khoảng 150 tỷ USD nhằm giảm hệ số đòn bẩy tài chính và áp lực lên vốn. Riêng trong quý 3, Lehman đã giảm được 17 tỷ USD tài sản rủi ro liên quan đến bất động sản. Các biện pháp tăng vốn được thực hiện song do không dự đoán được mức độ nghiêm trọng nên việc này đã chỉ được làm theo kiểu "catch-up".
Lehman đã không ít hơn 3 lần bỏ qua cơ hội tự cứu mình? Cơ hội thứ nhất là cơ hội tăng vốn khi có thể làm dễ dàng. Sau khi Bear Steans thất thủ, Lehman đã tiến hành tăng vốn vào đầu tháng 4 để chuẩn bị cho cuộc chiến. Lehman đã huy động thêm 4 tỷ USD vốn thông qua phát hành cổ phiếu ưu đãi. Mặc dù tỷ lệ đăng ký mua cổ phiếu của nhà đầu tư rất cao, vượt xa số vốn 4 tỷ USD cần huy động song Lehman đã từ chối phát hành thêm vốn, cho rằng như thế đã đủ.
Cơ hội thứ hai cũng là cơ hội tăng vốn sau khi báo cáo kết quả quý 2 bị lỗ 2,8 tỷ USD. Đây là lần đầu tiên Lehman báo cáo kết quả kinh doanh lỗ từ khi niêm yết. Ngay lập tức, Lehman tiến hành huy động thêm 6 tỷ USD vốn trong đó có 4 tỷ USD cổ phiếu phổ thông và 2 tỷ USD cổ phiếu ưu đãi nhằm bù đắp số lỗ quý 2. Lần này tỷ lệ đăng ký mua cổ phiếu cũng rất cao song Lehman cũng từ chối không phát hành thêm, cho rằng thế là đủ.
Cơ hội thứ 3 đến khi kết quả quý 3 chuẩn bị đến ngày công bố và thị trường đồn đoán số lỗ 4 tỷ USD. Lần này Lehman thực sự nhận ra sự nghiêm trọng và tiến hành tìm nhà đầu tư chiến lược để bán 25% ngân hàng. Đồng thời Lehman cũng đưa ra hàng loạt kế hoạch tái cơ cấu bao gồm bán một phần mảng quản lý tài sản để tăng tiền mặt, chia tách ngân hàng thành 2 công ty (spin off), công ty tốt và công ty xấu. Dự kiến công ty xấu (bad bank) sẽ nắm giữ toàn bộ tài sản xấu liên quan đến bất động sản và không niêm yết nhằm tránh áp dụng kế toán giá trị hợp lý (fair value). Tuy nhiên, lúc này tình thế đã thay đổi và khó khăn hơn nhiều. Cuộc đàm phán với Ngân hàng Phát triển Hàn Quốc (KDB) đáng lẽ ra có thể kết thúc song Lehman đã không làm được điều đó do sự bất đồng về giá.
Về khía cạnh này, Dick Fuld đã kém hơn John Thain, CEO của Merrill Lynch với thành tích “bán mình” cho BOA trong chỉ một ngày Chủ nhật. Lehman đã đánh mất cơ hội thứ 3, và cũng là cơ hội cuối cùng để tự cứu mình.
Không may mắn
Nhìn lại lịch sử 6 tháng qua, chúng ta sẽ hỏi tại sao FED cứu Bear Stearns bằng cách cung cấp 29 tỷ USD cho JP Morgan để mua Bear cứu Freddie Mac và Fannie Mae bằng cách tiếp quản trực tiếp, cứu AIG bằng việc tung ra 85 tỷ USD để mua 80% cổ phần. Đành rằng chúng ta không nên trông chờ vào Chính phủ giải quyết vấn đề của chúng ta song tại sao FED không làm như vậy với Lehman để BOA hoặc Barclays mua lại Lehman? Tại sao Lehman lại chết thảm như vậy?
Điều này cần giới học thuật sẽ mổ xẻ phân tích kỹ lưỡng. Tuy nhiên, người viết cho rằng thời điểm Lehman chết rất bất lợi cho Lehman và kết cục phải là như thế. Lehman và Bear có nhiều điểm tương đồng vì đều là ngân hàng đầu tư, do đó việc cứu Bears mà không cứu Lehman có lẽ do vấn đề thời điểm.
Thứ nhất, sau khi Bear chết, Chính phủ đã có dịch vụ cho vay chiết khấu dựa trên tài sản đảm bảo (discount window) nhằm cung cấp vốn cho ngân hàng đầu tư gặp khó khăn thanh khoản. Tuy nhiên cái chết của Lehman lại không phải là cái chết do thanh khoản nên đặc ân này chưa có cơ hội sử dụng.
Thứ hai, Lehman nguy kịch đúng lúc đỉnh điểm của cuộc khủng hoảng cùng Merrill Lynch, Wamu và AIG. Vấn đề “moral hazard” trở nên trầm trọng hơn hết vì nếu cứu tất cả, Chính phủ sẽ tạo ra một tiền lệ rất xấu, khuyến khích các tập đoàn tham gia thêm các hoạt động rủi ro. Chính phủ muốn khối tư nhân hiểu rằng họ phải tự giải quyết vấn đề của chính họ. Cần phải có một sự hy sinh nào đó để thị trường hiểu được điều này.
Hơn nữa, thời điểm gần cuộc bầu cử ở Mỹ cũng rất nhậy cảm khi khủng hoảng tài chính trở thành đề tài tranh luận giữa 2 ứng cử viên tổng thống Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa. Việc dùng tiền thuế của dân đi giải cứu các tập đoàn tài chính cần một lý do thuyết phục cao. Sự hy sinh lúc này có lẽ là điều cần thiết cho thị trường? Chọn ai trong số này với chi phí thấp nhất cho xã hội?
Freddie Mac, Fannie Mae với tư cách là 2 tập đoàn hoạt động được Chính phủ bảo lãnh nhằm cung cấp tín dụng bất động sản cho người dân, do đó 2 tập đoàn này không thể chết. AIG là tập đoàn bảo hiểm lớn, cung cấp hàng triệu hợp đồng bảo hiểm cho người dân. Với số tài sản khổng lồ trên 1,000 tỷ USD, AIG có lẽ không phải là sự lựa chọn để cho phải hy sinh. Sự lựa chọn tốt nhất của Chính phủ là ép khối tư nhân phải tự cứu Lehman. Nếu không được, thì Lehman sẽ phải hy sinh. Có lẽ Chính phủ đã tính hết điều này thể hiện qua sự cứng rắn của FED và Bộ Tài Chính trong phiên họp cuối tuần qua nhằm tìm ra phương án giải cứu Lehman.
Các nhân tố khác
Ngoài 3 nhóm nhân tố trên, cái chết của Lehman còn do một phần sự tàn nhẫn của thị trường.
Cổ phiếu Lehman đã bị bán khống. Các nhà đầu cơ bán khống (short sale) Lehman đặt cược với việc cổ phiếu sẽ giảm giá mạnh. Việc bán khống được thực hiện thông qua vay cổ phiếu để bán trước và mua quyền bán cổ phiếu (put option). Tuy việc bán khống không có gì sai song nó chính là nguyên nhân tạo ra các tin đồn sai sự thật nhằm hạ giá cổ phiếu Lehman. Điều này làm mất lòng tin của thị trường vào Lehman và đẩy Lehman dần rơi vào thế bất lợi.
Từ khi Lehman công bố kết quả lỗ quý 2 thì các hoạt động bán khống diễn ra mạnh mẽ. Cổ phiếu Lehman giảm thấp hơn nhiều so với giá trị ghi sổ là 30 USD. Vào tháng 7, cổ phiếu Lehman chỉ còn 15 USD tương đương mức vốn hoá 10 tỷ, ước tính bằng giá trị thị trường của công ty quản lý tài sản của Lehman là Neuberger Berman. Thị trường đã định giá Franchise còn lại của Lehman bằng 0? CEO Dick Fuld đã nhiều lần tức giận với những kẻ đầu cơ bán khống Lehman và kiên quyết phục thù. Song cuối cùng dân đầu cơ bán khống đã thắng.
Ảnh hưởng...
Cái chết của Lehman gây ảnh hưởng lớn cho thị trường tài chính.
Một làn sóng khủng hoảng niềm tin lan rộng toàn cầu sẽ tạo ra làn sóng bán tháo chứng khoán. Hàng loạt đối tác cung cấp vốn cho Lehman kể cả các cổ đông có thể chịu các khoản tổn thất nặng nề. Với quy mô tài sản trên 600 tỷ USD và hàng ngàn tỷ USD hợp đồng phái sinh, việc thanh lý tài sản sẽ vô cùng khó khăn và làm giá chứng khoán và bất động sản càng thêm suy giảm. Các nhà đầu tư nắm giữ trái phiếu và cho vay hoặc các hợp đồng phái sinh với Lehman sẽ chịu các khoản lỗ lớn.
Từ mức vốn hóa 45 tỷ USD vào đỉnh điểm 2007, giờ đây giá trị của Lehman gần như về số 0. Các cổ đông mới đầu tư thêm 10 tỷ USD vốn vào Lehman trong 6 tháng trở thành tay trắng. Với việc Barclays chỉ tiếp quản một phần hoạt động của Lehman sau khi phá sản, thì hàng chục ngàn nhân viên tài chính sẽ mất việc làm.
Khủng hoảng niềm tin sẽ đóng băng thị trường tín dụng và thị trường chứng khoán hóa. Đây là các mảng quan trọng của thị trường vốn. Chi phí huy động vốn trên thị trường sẽ tăng cao. Việc huy động vốn cho thị trường bất động sản trong vài năm tới gần như không thể.
...và bài học rút ra
Thị trường đang tự tìm ra những bài học sau thất bại của Lehman. Một số thậm chí đổ lỗi cho mô hình hoạt động độc lập của công ty chứng khoán. Họ cho rằng mô hình siêu thị tài chính "universal bank" là phù hợp với hoàn cảnh hiện nay nhằm đa dạng hoá nguồn vốn của ngân hàng thương mại giúp ngân hàng đầu tư chống đỡ khủng hoảng. Tuy nhiên nếu nhìn lại cuộc đại khủng hoảng năm 30 và lý do Mỹ ban hành đạo luật Glass-Steagall nhằm tách ngân hàng đầu tư ra khỏi ngân hàng thương mại thì kết luận này có lẽ cần nghiên cứu thêm.
Theo quan điểm của người viết, bài học lớn nhất có lẽ là chiến lược kinh doanh cùng quản trị rủi ro. Thực sự mà nói hệ thống quản trị rủi ro của Lehman rất tốt song đã không thể phòng ngừa được một cuộc khủng hoảng “trăm năm có một” này. Lehman chết không phải do thanh khoản mà là do lỗ kinh doanh ngày một tăng cao. Tuy nhiên, một chiến lược kinh doanh thận trọng luôn có tác dụng giảm thiểu tác động của các điều kiện bất lợi của thị trường và tăng cường khả năng chống đỡ. Trong hoàn cảnh Việt Nam, khi các ngân hàng chưa có hệ thống quản trị rủi ro tốt thì chiến lược kinh doanh thận trọng càng có ý nghĩa hơn nhiều.
Bài học thứ hai có lẽ là cách thức giải quyết khủng hoảng. Lehman do không đánh giá được mức độ nghiêm trọng của tình hình nên đã không quyết đoán trong xử lý. Việc bỏ lỡ các cơ hội tự giải cứu và tự đẩy mình vào thế chân tường là điều đáng tiếc.
Hy vọng, thị trường sẽ trưởng thành hơn sau những bài học mang tên Lehman này.
Cơn địa chấn “Lehman Brothers” (Lehman) đã đi vào lịch sử đối với giới đầu tư tài chính toàn cầu và chắc chắn sẽ còn tốn kém nhiều giấy mực của giới học thuật.
Theo quan điểm cá nhân của người viết, sự sụp đổ của Lehman bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, song có thể tổng hợp lại ở bốn nhóm nguyên nhân chính: các quyết định kinh doanh rủi ro, cách thức giải quyết khủng hoảng, sự không may mắn và các nhân tố khác.
Các quyết định kinh doanh rủi ro
Trước hết, có thể kết luận Lehman là nạn nhân của chính mình chứ không phải ai khác.
Ngân hàng đầu tư là một định chế tài chính có mức độ rủi ro rất cao và kiếm tiền thông qua quản trị rủi ro. Rủi ro cao đối với lĩnh vực bất động sản trong bối cảnh một cuộc khủng hoảng tín dụng toàn diện và khốc liệt trong lịch sử là nguyên nhân chính dẫn đến sự sụp đổ của một đế chế tài chính già cỗi 158 năm tuổi.
Trong một bài viết trước đây “Khủng hoảng nợ dưới chuẩn tại Mỹ: Từ A-Z”, người viết đã trình bày toàn cảnh về cuộc khủng hoảng tín dụng dưới chuẩn từ nguyên nhân, cách thức kiếm tiền của các ngân hàng đầu tư đến hậu quả gánh chịu của thị trường. Khủng hoảng tín dụng dưới chuẩn đã lan sang tín dụng trên chuẩn và toàn bộ thị trường tín dụng nói chung.
Lehman - cũng như các ngân hàng đầu tư khác - đã sử dụng nghiệp vụ chứng khoán hóa (securitisation) để biến các khoản cho vay mua bất động sản thành các gói trái phiếu có gốc bất động sản (MBS, MBO, CDO) đầy rủi ro cung cấp cho thị trường.
Khi nền kinh tế đi xuống, người vay tiền mua nhà không trả được các khoản vay mua nhà thì rủi ro tín dụng được chuyển sang các gói trái phiếu có các danh mục tín dụng bất động sản làm tài sản đảm bảo. Khủng hoảng càng gia tăng thì việc phát mại tài sản càng tăng làm giá bất động sản càng giảm. Điều này có nghĩa giá trị tài sản đảm bảo của trái phiếu càng giảm và rủi ro tín dụng càng tăng.
Vòng xoáy khủng hoảng cứ tiếp tục như vậy, làm cho giá chứng khoán sụt giảm mạnh. Các ngân hàng đầu tư mặc dù không nắm giữ toàn bộ rủi ro nhưng cũng trực tiếp hoặc gián tiếp duy trì một số danh mục chứng khoán liên quan đến bất động sản. Hậu quả là hàng loạt ngân hàng đầu tư lần lượt báo cáo các khoản lỗ kinh doanh.
Lehman là một trong những ngân hàng đầu tư tham gia sâu vào hoạt động chứng khoán hóa tín dụng bất động sản. Được tách ra từ American Express năm 1994, Lehman đã xây dựng cho mình một thương hiệu mạnh về các phẩm có thu nhập cố định nói chung và trái phiếu nói riêng. Sự dính líu sâu của Lehman vào lĩnh vực này là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến kết cục ngày hôm nay. Công bằng mà nói, Lehman đã lường trước được vấn đề và cố gắng không dính nhiều vào tín dụng bất động sản dưới chuẩn. Trong số danh mục liên quan đến bất động sản khoảng 60 tỷ USD thì tín dụng bất động sản dưới chuẩn chiếm dưới 2 tỷ USD. Tuy nhiên, với sự lan rộng của khủng hoảng tín dụng mà tín dụng dưới chuẩn chỉ là mồi lửa ban đầu thì Lehman đã không kịp thoát.
Ngoài các gói trái phiếu liên quan đến bất động sản, Lehman còn đầu tư trực tiếp hoặc gián tiếp vào bất động sản thương mại. Lehman có thể cấu trúc các giao dịch này thông qua cung cấp vốn nợ hoặc vốn chủ sở hữu cho các công ty con hoặc liên doanh đầu tư bất động sản. Khi thị trường bất động sản đi xuống thì các giá trị bất động sản thương mại này cũng giảm theo.
Tại thời điểm cuối tháng 8, Lehman nắm danh mục khoảng 52 tỷ USD liên quan đến bất động sản, trong đó 24 tỷ USD chứng khoán bất động sản nhà ở, 17 tỷ USD chứng khoán bất động sản thương mại và 11 tỷ đầu tư trực tiếp. So với tương quan tổng tài sản khoảng 600 tỷ USD và vốn chủ khoảng 20 tỷ USD thì đây là một danh mục lớn.
Giám đốc điều hành của Lehman, Dick Fuld, là người gắn bó tâm huyết với Lehman trong suốt 4 thập kỷ và là người chèo lái Lehman trong 14 năm qua. Vốn là người thận trọng, Ông đã giúp Lehman vượt qua cuộc khủng hoảng năm 1998 với sự sụp đổ của quỹ đầu cơ “Long-Term Capital Management” là một khách hàng lớn của Lehman. Chính cuộc khủng hoảng này đã giúp Lehman phát triển một chiến lược kinh doanh phù hợp cùng với một hệ thống quản trị rủi ro tốt nhất phố Wall. Tuy nhiên, sự bùng nổ kinh tế toàn cầu trong 3-4 năm gần đây cùng với chiến lược mở rộng đã làm Dick Fuld thay đổi chiến lược kinh doanh của Lehman sang các hoạt động rủi ro hơn trong đó có bất động sản.
Năm 2005, giám đốc toàn cầu phụ trách dòng sản phẩm có thu nhập cố định của Lehman là Michael Gelband đã phải ra đi vì có quan điểm trái ngược về chiến lược kinh doanh này. Tháng 6/2008, khi Lehman rơi vào đỉnh cao khó khăn của cuộc khủng hoảng tín dụng thì Michael Gelband được mời về vị trí giám đốc toàn cầu phụ trách thị trường vốn nhằm cứu vãn tình hình. Tuy nhiên, điều này đã quá muộn!
Cách thức giải quyết khủng hoảng
Công bằng mà nói cuộc khủng hoảng tín dụng đã làm hàng loạt tên tuổi đều rơi vào vòng xoáy chứ không chỉ có Lehman. Các ngân hàng UBS, Citi, Merrill Lynch, Bear Steans, Morgan Stanley, Freddie Mac, Fannie Mae đều gánh chịu các khoản lỗ nặng nề với tổng số lên tới hàng trăm tỷ USD. Số nhân viên sa thải tại các trung tâm tài chính lên tới hàng ngàn.
Ngay trước lúc Lehman hấp hối, hàng loạt các tên tuổi như Merrill Lynch, AIG, Washington Mutual cũng rơi vào tình trạng tương tự. Vậy tại sao chỉ có Lehman lại chịu một cái chết thảm như vậy?
Người viết cho rằng cách thức giải quyết khủng hoảng thiếu sáng suốt và thiếu quyết đoán của Ban lãnh đạo Lehman đã đẩy Lehman vào thế chân tường. Phải nói rằng vấn đề của Lehman là vấn đề không mới và đã được cảnh báo trong một thời gian dài. Trong 6 tháng gần đây, đã một vài lần tình hình của Lehman dậy sóng. Đặc biệt sau khi Bear Stearns ra đi thì thị trường đã đặt câu hỏi “Ai là người kế tiếp?”.
Nếu tính theo thứ tự quy mô Top 5 của ngân hàng đầu tư trên phố Wall, ai cũng biết đó là Lehman rồi mới đến Merrill Lynch, Morgan Stanley và cuối cùng Goldman Sachs. Ban lãnh đạo Lehman cũng đã có nhiều biện pháp giảm quy mô bảng cân đối một cách mạnh mẽ. Trong quý 2 và quý 3, quy mô tài sản của Lehman giảm khoảng 150 tỷ USD nhằm giảm hệ số đòn bẩy tài chính và áp lực lên vốn. Riêng trong quý 3, Lehman đã giảm được 17 tỷ USD tài sản rủi ro liên quan đến bất động sản. Các biện pháp tăng vốn được thực hiện song do không dự đoán được mức độ nghiêm trọng nên việc này đã chỉ được làm theo kiểu "catch-up".
Lehman đã không ít hơn 3 lần bỏ qua cơ hội tự cứu mình? Cơ hội thứ nhất là cơ hội tăng vốn khi có thể làm dễ dàng. Sau khi Bear Steans thất thủ, Lehman đã tiến hành tăng vốn vào đầu tháng 4 để chuẩn bị cho cuộc chiến. Lehman đã huy động thêm 4 tỷ USD vốn thông qua phát hành cổ phiếu ưu đãi. Mặc dù tỷ lệ đăng ký mua cổ phiếu của nhà đầu tư rất cao, vượt xa số vốn 4 tỷ USD cần huy động song Lehman đã từ chối phát hành thêm vốn, cho rằng như thế đã đủ.
Cơ hội thứ hai cũng là cơ hội tăng vốn sau khi báo cáo kết quả quý 2 bị lỗ 2,8 tỷ USD. Đây là lần đầu tiên Lehman báo cáo kết quả kinh doanh lỗ từ khi niêm yết. Ngay lập tức, Lehman tiến hành huy động thêm 6 tỷ USD vốn trong đó có 4 tỷ USD cổ phiếu phổ thông và 2 tỷ USD cổ phiếu ưu đãi nhằm bù đắp số lỗ quý 2. Lần này tỷ lệ đăng ký mua cổ phiếu cũng rất cao song Lehman cũng từ chối không phát hành thêm, cho rằng thế là đủ.
Cơ hội thứ 3 đến khi kết quả quý 3 chuẩn bị đến ngày công bố và thị trường đồn đoán số lỗ 4 tỷ USD. Lần này Lehman thực sự nhận ra sự nghiêm trọng và tiến hành tìm nhà đầu tư chiến lược để bán 25% ngân hàng. Đồng thời Lehman cũng đưa ra hàng loạt kế hoạch tái cơ cấu bao gồm bán một phần mảng quản lý tài sản để tăng tiền mặt, chia tách ngân hàng thành 2 công ty (spin off), công ty tốt và công ty xấu. Dự kiến công ty xấu (bad bank) sẽ nắm giữ toàn bộ tài sản xấu liên quan đến bất động sản và không niêm yết nhằm tránh áp dụng kế toán giá trị hợp lý (fair value). Tuy nhiên, lúc này tình thế đã thay đổi và khó khăn hơn nhiều. Cuộc đàm phán với Ngân hàng Phát triển Hàn Quốc (KDB) đáng lẽ ra có thể kết thúc song Lehman đã không làm được điều đó do sự bất đồng về giá.
Về khía cạnh này, Dick Fuld đã kém hơn John Thain, CEO của Merrill Lynch với thành tích “bán mình” cho BOA trong chỉ một ngày Chủ nhật. Lehman đã đánh mất cơ hội thứ 3, và cũng là cơ hội cuối cùng để tự cứu mình.
Không may mắn
Nhìn lại lịch sử 6 tháng qua, chúng ta sẽ hỏi tại sao FED cứu Bear Stearns bằng cách cung cấp 29 tỷ USD cho JP Morgan để mua Bear cứu Freddie Mac và Fannie Mae bằng cách tiếp quản trực tiếp, cứu AIG bằng việc tung ra 85 tỷ USD để mua 80% cổ phần. Đành rằng chúng ta không nên trông chờ vào Chính phủ giải quyết vấn đề của chúng ta song tại sao FED không làm như vậy với Lehman để BOA hoặc Barclays mua lại Lehman? Tại sao Lehman lại chết thảm như vậy?
Điều này cần giới học thuật sẽ mổ xẻ phân tích kỹ lưỡng. Tuy nhiên, người viết cho rằng thời điểm Lehman chết rất bất lợi cho Lehman và kết cục phải là như thế. Lehman và Bear có nhiều điểm tương đồng vì đều là ngân hàng đầu tư, do đó việc cứu Bears mà không cứu Lehman có lẽ do vấn đề thời điểm.
Thứ nhất, sau khi Bear chết, Chính phủ đã có dịch vụ cho vay chiết khấu dựa trên tài sản đảm bảo (discount window) nhằm cung cấp vốn cho ngân hàng đầu tư gặp khó khăn thanh khoản. Tuy nhiên cái chết của Lehman lại không phải là cái chết do thanh khoản nên đặc ân này chưa có cơ hội sử dụng.
Thứ hai, Lehman nguy kịch đúng lúc đỉnh điểm của cuộc khủng hoảng cùng Merrill Lynch, Wamu và AIG. Vấn đề “moral hazard” trở nên trầm trọng hơn hết vì nếu cứu tất cả, Chính phủ sẽ tạo ra một tiền lệ rất xấu, khuyến khích các tập đoàn tham gia thêm các hoạt động rủi ro. Chính phủ muốn khối tư nhân hiểu rằng họ phải tự giải quyết vấn đề của chính họ. Cần phải có một sự hy sinh nào đó để thị trường hiểu được điều này.
Hơn nữa, thời điểm gần cuộc bầu cử ở Mỹ cũng rất nhậy cảm khi khủng hoảng tài chính trở thành đề tài tranh luận giữa 2 ứng cử viên tổng thống Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa. Việc dùng tiền thuế của dân đi giải cứu các tập đoàn tài chính cần một lý do thuyết phục cao. Sự hy sinh lúc này có lẽ là điều cần thiết cho thị trường? Chọn ai trong số này với chi phí thấp nhất cho xã hội?
Freddie Mac, Fannie Mae với tư cách là 2 tập đoàn hoạt động được Chính phủ bảo lãnh nhằm cung cấp tín dụng bất động sản cho người dân, do đó 2 tập đoàn này không thể chết. AIG là tập đoàn bảo hiểm lớn, cung cấp hàng triệu hợp đồng bảo hiểm cho người dân. Với số tài sản khổng lồ trên 1,000 tỷ USD, AIG có lẽ không phải là sự lựa chọn để cho phải hy sinh. Sự lựa chọn tốt nhất của Chính phủ là ép khối tư nhân phải tự cứu Lehman. Nếu không được, thì Lehman sẽ phải hy sinh. Có lẽ Chính phủ đã tính hết điều này thể hiện qua sự cứng rắn của FED và Bộ Tài Chính trong phiên họp cuối tuần qua nhằm tìm ra phương án giải cứu Lehman.
Các nhân tố khác
Ngoài 3 nhóm nhân tố trên, cái chết của Lehman còn do một phần sự tàn nhẫn của thị trường.
Cổ phiếu Lehman đã bị bán khống. Các nhà đầu cơ bán khống (short sale) Lehman đặt cược với việc cổ phiếu sẽ giảm giá mạnh. Việc bán khống được thực hiện thông qua vay cổ phiếu để bán trước và mua quyền bán cổ phiếu (put option). Tuy việc bán khống không có gì sai song nó chính là nguyên nhân tạo ra các tin đồn sai sự thật nhằm hạ giá cổ phiếu Lehman. Điều này làm mất lòng tin của thị trường vào Lehman và đẩy Lehman dần rơi vào thế bất lợi.
Từ khi Lehman công bố kết quả lỗ quý 2 thì các hoạt động bán khống diễn ra mạnh mẽ. Cổ phiếu Lehman giảm thấp hơn nhiều so với giá trị ghi sổ là 30 USD. Vào tháng 7, cổ phiếu Lehman chỉ còn 15 USD tương đương mức vốn hoá 10 tỷ, ước tính bằng giá trị thị trường của công ty quản lý tài sản của Lehman là Neuberger Berman. Thị trường đã định giá Franchise còn lại của Lehman bằng 0? CEO Dick Fuld đã nhiều lần tức giận với những kẻ đầu cơ bán khống Lehman và kiên quyết phục thù. Song cuối cùng dân đầu cơ bán khống đã thắng.
Ảnh hưởng...
Cái chết của Lehman gây ảnh hưởng lớn cho thị trường tài chính.
Một làn sóng khủng hoảng niềm tin lan rộng toàn cầu sẽ tạo ra làn sóng bán tháo chứng khoán. Hàng loạt đối tác cung cấp vốn cho Lehman kể cả các cổ đông có thể chịu các khoản tổn thất nặng nề. Với quy mô tài sản trên 600 tỷ USD và hàng ngàn tỷ USD hợp đồng phái sinh, việc thanh lý tài sản sẽ vô cùng khó khăn và làm giá chứng khoán và bất động sản càng thêm suy giảm. Các nhà đầu tư nắm giữ trái phiếu và cho vay hoặc các hợp đồng phái sinh với Lehman sẽ chịu các khoản lỗ lớn.
Từ mức vốn hóa 45 tỷ USD vào đỉnh điểm 2007, giờ đây giá trị của Lehman gần như về số 0. Các cổ đông mới đầu tư thêm 10 tỷ USD vốn vào Lehman trong 6 tháng trở thành tay trắng. Với việc Barclays chỉ tiếp quản một phần hoạt động của Lehman sau khi phá sản, thì hàng chục ngàn nhân viên tài chính sẽ mất việc làm.
Khủng hoảng niềm tin sẽ đóng băng thị trường tín dụng và thị trường chứng khoán hóa. Đây là các mảng quan trọng của thị trường vốn. Chi phí huy động vốn trên thị trường sẽ tăng cao. Việc huy động vốn cho thị trường bất động sản trong vài năm tới gần như không thể.
...và bài học rút ra
Thị trường đang tự tìm ra những bài học sau thất bại của Lehman. Một số thậm chí đổ lỗi cho mô hình hoạt động độc lập của công ty chứng khoán. Họ cho rằng mô hình siêu thị tài chính "universal bank" là phù hợp với hoàn cảnh hiện nay nhằm đa dạng hoá nguồn vốn của ngân hàng thương mại giúp ngân hàng đầu tư chống đỡ khủng hoảng. Tuy nhiên nếu nhìn lại cuộc đại khủng hoảng năm 30 và lý do Mỹ ban hành đạo luật Glass-Steagall nhằm tách ngân hàng đầu tư ra khỏi ngân hàng thương mại thì kết luận này có lẽ cần nghiên cứu thêm.
Theo quan điểm của người viết, bài học lớn nhất có lẽ là chiến lược kinh doanh cùng quản trị rủi ro. Thực sự mà nói hệ thống quản trị rủi ro của Lehman rất tốt song đã không thể phòng ngừa được một cuộc khủng hoảng “trăm năm có một” này. Lehman chết không phải do thanh khoản mà là do lỗ kinh doanh ngày một tăng cao. Tuy nhiên, một chiến lược kinh doanh thận trọng luôn có tác dụng giảm thiểu tác động của các điều kiện bất lợi của thị trường và tăng cường khả năng chống đỡ. Trong hoàn cảnh Việt Nam, khi các ngân hàng chưa có hệ thống quản trị rủi ro tốt thì chiến lược kinh doanh thận trọng càng có ý nghĩa hơn nhiều.
Bài học thứ hai có lẽ là cách thức giải quyết khủng hoảng. Lehman do không đánh giá được mức độ nghiêm trọng của tình hình nên đã không quyết đoán trong xử lý. Việc bỏ lỡ các cơ hội tự giải cứu và tự đẩy mình vào thế chân tường là điều đáng tiếc.
Hy vọng, thị trường sẽ trưởng thành hơn sau những bài học mang tên Lehman này.
Tuesday, September 16, 2008
Merrill Lynch – hào quang đã tắt
Ngày 14/09/2008, tên tuổi một thời lừng danh phố Wall này đã chỉ còn là quá khứ.
Merrill Lynch & Co., Inc là tập đoàn tài chính lớn hàng đầu thế giới. Tập đoàn cung cấp dịch vụ cho thị trường vốn, đầu tư ngân hàng, tư vấn tài chính, quản lý tài sản, bảo hiểm, ngân hàng và dịch vụ tài chính liên quan.
Trụ sở chính của Merrill Lynch tại New York. Khu văn phòng của công ty nằm tại trung tâm tài chính Four World tại Manhattan.
Người sáng lập ra Merrill Lynch - ông Charles Merrill
Những bước phát triển của Merrill Lynch
Merrill Lynch được sáng lập ngày 06/01/1914 tại New York và mang tên Charles E. Merrill & Co. Một vài tháng sau đó, một người bạn của Merrill, ông Edmund C. Lynch đã hợp tác với Merrill và vào năm 1915, công ty được chuyển tên sang Merrill, Lynch & Co.
Vào thời điểm đó, tên công ty còn có dấu phẩy ở giữa. Năm 1916, ông Winthrop H. Smith gia nhập công ty. Trong những ngày đầu tiên, Merrill, Lynch & Co. tiến hành đầu tư thành công một số lần. Năm 1921, công ty mua Pathé Exchange, sau đó trở thành RKO Pictures.
Năm 1926, công ty tiến hành vụ đầu tư tài chính đáng chú ý nhất trong lịch sử lúc đó. Công ty đã biến một cửa hàng rau quả nhỏ thành hệ thống bán rau quả lớn thứ 3 ở Mỹ vào đầu thập niên 1930. Sau khi tiến hành thành công thương vụ này, công ty tiến đến tăng đầu tư vào lĩnh vực ngân hàng với thương vụ đối với E.A. Pierce.
Năm 1940, công ty sáp nhập với E. A. Pierce & Co. và Cassatt & Co. và sau đó có tên Merrill Lynch, E. A. Pierce, and Cassatt. Tuy nhiên sau khi ông Edmund Lynch qua đời vào năm 1952, công ty đổi tên thành Merrill Lynch & Co. Năm 1941, Merrill Lynch là công ty đầu tiên phát hành báo cáo tài chính hàng năm.
Năm 1941, Fenner & Beane sáp nhập với Merrill và công ty có tên Merrill Lynch, Pierce, Fenner & Beane.
Thương vụ sáp nhập này đưa công ty thành một trong những tổ chức tài chính hàng đầu thế giới với văn phòng tại hơn 98 thành phố của Mỹ.
Khởi đầu năm tài chính ngày 01/03/1958, công ty có tên Merrill Lynch, Pierce, Fenner & Smith và trở thành một trong những công ty lớn nhất trên Sở giao dịch chứng khoán New York.
Năm 1971, công ty trở thành tập đoàn đa quốc gia với tổng tài sản khách hàng lên tới 1,8 nghìn tỷ USD và có hoạt động tại hơn 40 quốc gia trên toàn thế giới.
Năm 1978, Merrill Lynch mua lại White Weld & Co, một ngân hàng đầu tư nhỏ nhưng hết sức có uy tín.
Ngày 1/11/2007, CEO của Merrill Lynch, ông Stanley O'Neal chính thức rời công ty bởi gặp quá nhiều chỉ trích về cách ông ứng phó với cuộc khủng hoảng cho vay bất động sản dưới chuẩn. Một lý do khác khiến ông phải từ chức là bất đồng với ban giám đốc về vụ sáp nhập với ngân hàng Wachovia.
Thua lỗ kỷ lục trong lịch sử 93 năm hoạt động, ngày 14/11/2007, Merrill Lynch & Co bất ngờ chọn ông John Thain, Giám đốc Sở Giao dịch Chứng khoán New York và châu Âu (NYSE Euronext) làm cứu cánh, đảm nhận vị trí CEO kiêm Chủ tịch Tập đoàn.
Ngày 01/12/2007 Merrill Lynch chính thức có giám đốc điều hành mới, ông John Thain.
Ngày 28/12/2007, tập đoàn nhà nước của Singapore Temasek đầu tư 5 tỷ USD thông qua việc mua lại gần 10% cổ phần của Merrill.
Ngày 17/01/2008, Merrill Lynch công bố thua lỗ 9,83 tỷ USD.
Ngày 21/01/2008 Tập đoàn Đầu tư Hàn Quốc đầu tư 2 tỷ USD vào Merrill Lynch. Việc KIC đầu tư 2 tỷ USD vào ngân hàng Merrill Lynch của Mỹ là một trong những bước thực hiện chiến lược phát triển và là lần góp vốn đầu tiên của tập đoàn vào một ngân hàng đầu tư nước ngoài.
Ngày 17/04/2008, tập đoàn công bố thua lỗ 1,97 tỷ USD và công bố cắt giảm khoảng 4.000 việc làm sau khi phải chịu khoản giảm lãi 6,5 tỷ USD và phí dịch vụ thu được giảm 40%.
Bốn tháng kể từ khi nhận chức CEO của Merrill Lynch, ông John Thain đã quyết định bán hơn 12 tỷ USD cổ phiếu để tăng vốn và cải tổ việc quản trị rủi ro sau khoản thua lỗ hơn 20 tỷ USD trong kinh doanh tín dụng.
Tháng 6/2008, tập đoàn Merrill Lynch đang tiến hành các cuộc thương lượng để bán 20% cổ phần mà họ đang nắm giữ trong công ty Bloomberg.
Merrill Lynch đã mua số cổ phần trên trong Bloomberg từ thập niên 80 và là một trong những cổ đông đầu tiên của công ty truyền thông tài chính hùng mạnh này.
Merrill Lynch công bố ứng phó với tình trạng thua lỗ bằng việc bán cổ phiếu ưu đãi,tuy nhiên một số chuyên gia đánh giá chiến lược như vậy sẽ ảnh hưởng xấu đến xếp hạng tín dụng của tập đoàn.
Ngày 15/09 Merrill Lynch đã đồng ý với thương vụ này sau khi tham gia buổi họp với FED về số phận của đối thủ yếu thế hơn của Merrill Lynch là Lehman Brothers Holdings Inc.
Mức giá cổ phiếu của Merrill Lynch trong thương vụ này là 29USD/cổ phiếu, thấp hơn 70% so với giá cổ phiếu của Merrill Lynch vào tháng 1/2006. Mức giá này vẫn cao hơn 70% so với mức giá đóng cửa 17,05USD/cổ phiếu tại thị trường New York ngày 12/09.
Khủng hoảng cho vay thế chấp bất động sản dưới chuẩn đã khiến con số 5 tập đoàn tài chính lớn trên phố Wall này chỉ còn lại 2.
Bank of America Corp đã đồng ý mua lại Merrill Lynch, tập đoàn tài chính có lịch sử 94 năm hoạt động, với giá 50 tỷ USD.
Quyết định này được đưa ra trong vòng chưa đến 24 tiếng.
Merrill Lynch, một trong những tập đoàn tài chính hàng đầu của Mỹ, đã đồng ý với thương vụ này sau khi tham gia buổi thảo luận với FED về số phận của đối thủ yếu thế hơn của Merrill Lynch là Lehman Brothers Holdings Inc.
Cổ phiếu của ML trượt dốc mạnh trong tuần qua. Mức giá cổ phiếu của Merrill Lynch trong thương vụ này là 29USD/cổ phiếu, thấp hơn 70% so với giá cổ phiếu của Merrill Lynch vào tháng 1/2006.
Tuy nhiên mức giá đó vẫn cao hơn 70% so với mức giá đóng cửa 17,05USD/cổ phiếu tại thị trường New York ngày 12/09.
Ông Peter Kenny, một đại diện của Knight Capital Group Inc, cho rằng trật tự của thế giới tài chính đang thay đổi. Đây sẽ là một quá trình đầy đau đớn.
5 tổ chức tài chính hàng đầu phố Wall nay đã chỉ còn lại hai tên tuổi là Goldman Sachs Group Inc. và Morgan Stanley. Trong khi hai tổ chức này dự kiến sẽ tiếp tục công bố thua lỗ quý thứ 3, tuy nhiên công việc kinh doanh của họ vẫn mang lại lợi nhuận trong suốt năm 2008, không hề giống với số phận bi thảm của Lehman và Merrill.
Merrill Lynch & Co., Inc là tập đoàn tài chính lớn hàng đầu thế giới. Tập đoàn cung cấp dịch vụ cho thị trường vốn, đầu tư ngân hàng, tư vấn tài chính, quản lý tài sản, bảo hiểm, ngân hàng và dịch vụ tài chính liên quan.
Trụ sở chính của Merrill Lynch tại New York. Khu văn phòng của công ty nằm tại trung tâm tài chính Four World tại Manhattan.
Người sáng lập ra Merrill Lynch - ông Charles Merrill
Những bước phát triển của Merrill Lynch
Merrill Lynch được sáng lập ngày 06/01/1914 tại New York và mang tên Charles E. Merrill & Co. Một vài tháng sau đó, một người bạn của Merrill, ông Edmund C. Lynch đã hợp tác với Merrill và vào năm 1915, công ty được chuyển tên sang Merrill, Lynch & Co.
Vào thời điểm đó, tên công ty còn có dấu phẩy ở giữa. Năm 1916, ông Winthrop H. Smith gia nhập công ty. Trong những ngày đầu tiên, Merrill, Lynch & Co. tiến hành đầu tư thành công một số lần. Năm 1921, công ty mua Pathé Exchange, sau đó trở thành RKO Pictures.
Năm 1926, công ty tiến hành vụ đầu tư tài chính đáng chú ý nhất trong lịch sử lúc đó. Công ty đã biến một cửa hàng rau quả nhỏ thành hệ thống bán rau quả lớn thứ 3 ở Mỹ vào đầu thập niên 1930. Sau khi tiến hành thành công thương vụ này, công ty tiến đến tăng đầu tư vào lĩnh vực ngân hàng với thương vụ đối với E.A. Pierce.
Năm 1940, công ty sáp nhập với E. A. Pierce & Co. và Cassatt & Co. và sau đó có tên Merrill Lynch, E. A. Pierce, and Cassatt. Tuy nhiên sau khi ông Edmund Lynch qua đời vào năm 1952, công ty đổi tên thành Merrill Lynch & Co. Năm 1941, Merrill Lynch là công ty đầu tiên phát hành báo cáo tài chính hàng năm.
Năm 1941, Fenner & Beane sáp nhập với Merrill và công ty có tên Merrill Lynch, Pierce, Fenner & Beane.
Thương vụ sáp nhập này đưa công ty thành một trong những tổ chức tài chính hàng đầu thế giới với văn phòng tại hơn 98 thành phố của Mỹ.
Khởi đầu năm tài chính ngày 01/03/1958, công ty có tên Merrill Lynch, Pierce, Fenner & Smith và trở thành một trong những công ty lớn nhất trên Sở giao dịch chứng khoán New York.
Năm 1971, công ty trở thành tập đoàn đa quốc gia với tổng tài sản khách hàng lên tới 1,8 nghìn tỷ USD và có hoạt động tại hơn 40 quốc gia trên toàn thế giới.
Năm 1978, Merrill Lynch mua lại White Weld & Co, một ngân hàng đầu tư nhỏ nhưng hết sức có uy tín.
Ngày 1/11/2007, CEO của Merrill Lynch, ông Stanley O'Neal chính thức rời công ty bởi gặp quá nhiều chỉ trích về cách ông ứng phó với cuộc khủng hoảng cho vay bất động sản dưới chuẩn. Một lý do khác khiến ông phải từ chức là bất đồng với ban giám đốc về vụ sáp nhập với ngân hàng Wachovia.
Thua lỗ kỷ lục trong lịch sử 93 năm hoạt động, ngày 14/11/2007, Merrill Lynch & Co bất ngờ chọn ông John Thain, Giám đốc Sở Giao dịch Chứng khoán New York và châu Âu (NYSE Euronext) làm cứu cánh, đảm nhận vị trí CEO kiêm Chủ tịch Tập đoàn.
Ngày 01/12/2007 Merrill Lynch chính thức có giám đốc điều hành mới, ông John Thain.
Ngày 28/12/2007, tập đoàn nhà nước của Singapore Temasek đầu tư 5 tỷ USD thông qua việc mua lại gần 10% cổ phần của Merrill.
Ngày 17/01/2008, Merrill Lynch công bố thua lỗ 9,83 tỷ USD.
Ngày 21/01/2008 Tập đoàn Đầu tư Hàn Quốc đầu tư 2 tỷ USD vào Merrill Lynch. Việc KIC đầu tư 2 tỷ USD vào ngân hàng Merrill Lynch của Mỹ là một trong những bước thực hiện chiến lược phát triển và là lần góp vốn đầu tiên của tập đoàn vào một ngân hàng đầu tư nước ngoài.
Ngày 17/04/2008, tập đoàn công bố thua lỗ 1,97 tỷ USD và công bố cắt giảm khoảng 4.000 việc làm sau khi phải chịu khoản giảm lãi 6,5 tỷ USD và phí dịch vụ thu được giảm 40%.
Bốn tháng kể từ khi nhận chức CEO của Merrill Lynch, ông John Thain đã quyết định bán hơn 12 tỷ USD cổ phiếu để tăng vốn và cải tổ việc quản trị rủi ro sau khoản thua lỗ hơn 20 tỷ USD trong kinh doanh tín dụng.
Tháng 6/2008, tập đoàn Merrill Lynch đang tiến hành các cuộc thương lượng để bán 20% cổ phần mà họ đang nắm giữ trong công ty Bloomberg.
Merrill Lynch đã mua số cổ phần trên trong Bloomberg từ thập niên 80 và là một trong những cổ đông đầu tiên của công ty truyền thông tài chính hùng mạnh này.
Merrill Lynch công bố ứng phó với tình trạng thua lỗ bằng việc bán cổ phiếu ưu đãi,tuy nhiên một số chuyên gia đánh giá chiến lược như vậy sẽ ảnh hưởng xấu đến xếp hạng tín dụng của tập đoàn.
Ngày 15/09 Merrill Lynch đã đồng ý với thương vụ này sau khi tham gia buổi họp với FED về số phận của đối thủ yếu thế hơn của Merrill Lynch là Lehman Brothers Holdings Inc.
Mức giá cổ phiếu của Merrill Lynch trong thương vụ này là 29USD/cổ phiếu, thấp hơn 70% so với giá cổ phiếu của Merrill Lynch vào tháng 1/2006. Mức giá này vẫn cao hơn 70% so với mức giá đóng cửa 17,05USD/cổ phiếu tại thị trường New York ngày 12/09.
Khủng hoảng cho vay thế chấp bất động sản dưới chuẩn đã khiến con số 5 tập đoàn tài chính lớn trên phố Wall này chỉ còn lại 2.
Bank of America Corp đã đồng ý mua lại Merrill Lynch, tập đoàn tài chính có lịch sử 94 năm hoạt động, với giá 50 tỷ USD.
Quyết định này được đưa ra trong vòng chưa đến 24 tiếng.
Merrill Lynch, một trong những tập đoàn tài chính hàng đầu của Mỹ, đã đồng ý với thương vụ này sau khi tham gia buổi thảo luận với FED về số phận của đối thủ yếu thế hơn của Merrill Lynch là Lehman Brothers Holdings Inc.
Cổ phiếu của ML trượt dốc mạnh trong tuần qua. Mức giá cổ phiếu của Merrill Lynch trong thương vụ này là 29USD/cổ phiếu, thấp hơn 70% so với giá cổ phiếu của Merrill Lynch vào tháng 1/2006.
Tuy nhiên mức giá đó vẫn cao hơn 70% so với mức giá đóng cửa 17,05USD/cổ phiếu tại thị trường New York ngày 12/09.
Ông Peter Kenny, một đại diện của Knight Capital Group Inc, cho rằng trật tự của thế giới tài chính đang thay đổi. Đây sẽ là một quá trình đầy đau đớn.
5 tổ chức tài chính hàng đầu phố Wall nay đã chỉ còn lại hai tên tuổi là Goldman Sachs Group Inc. và Morgan Stanley. Trong khi hai tổ chức này dự kiến sẽ tiếp tục công bố thua lỗ quý thứ 3, tuy nhiên công việc kinh doanh của họ vẫn mang lại lợi nhuận trong suốt năm 2008, không hề giống với số phận bi thảm của Lehman và Merrill.
Subscribe to:
Posts (Atom)