Sunday, July 24, 2011

Ý NGHĨA CÁC CHỈ SỐ CHÚNG KHÓAN TRONG PHÂN TÍCH CƠ BẢN

EPS & P/E


EPS và P/E có ý nghĩa thế nào trong đầu tư?Tôi muốn biết P/E và EPS là chữ viết tắt của thuật ngữ gì, và các thuật ngữ này có ý nghĩa như thế nào trong đầu tư chứng khoán.Trả lời:EPS (Earning Per Share) là lợi nhuận (thu nhập) trên mỗi cổ phiếu.Đây là phần lợi nhuận mà công ty phân bổ cho mỗi cổ phần thông thường đang được lưu hành trên thị trường. EPS được sử dụng như một chỉ số thể hiện khả năng kiếm lợi nhuận của doanh nghiệp, được tính bởi công thức:EPS = (Thu nhập ròng - cổ tức cổ phiếu ưu đãi) / lượng cổ phiếu bình quân đang lưu thông.Trong việc tính toán EPS, sẽ chính xác hơn nếu sử dụng lượng cổ phiếu lưu hành bình quân trong kỳ để tính toán vì lượng cổ phiếu thường xuyên thay đổi theo thời gian. Tuy nhiên trên thực tế người ta thường hay đơn giản hoá việc tính toán bằng cách sử dụng số cổ phiếu đang lưu hành vào thời điểm cuối kỳ. Có thể làm giảm EPS dựa trên công thức cũ bằng cách tính thêm cả các cổ phiếu chuyển đổi, các bảo chứng (warrant) vào lượng cổ phiếu đang lưu thông.EPS thường được coi là biến số quan trọng duy nhất trong việc tính toán giá cổ phiếu. Đây cũng chính là bộ phận chủ yếu cấu thành nên tỉ lệ P/E. Một khía cạnh rất quan trọng của EPS thường hay bị bỏ qua là lượng vốn cần thiết để tạo ra thu nhập ròng (net income) trong công thức tính trên.Hai doanh nghiệp có thể có cùng tỷ lệ EPS nhưng một trong hai có thể có ít cổ phần hơn tức là doanh nghiệp này sử dụng vốn hiệu quả hơn. Nếu như các yếu tố khác là cân bằng thì rõ ràng doanh nghiệp này tốt hơn doanh nghiệp còn lại. Vì doanh nghiệp có thể lợi dụng các kỹ thuật tính toán để đưa ra con số EPS hấp dẫn nên các nhà đầu tư cũng cần hiểu rõ cách tính của từng doanh nghiệp để đảm bảo "chất lượng" của tỉ lệ này. Tốt hơn hết là không nên dựa vào một thước đo tài chính duy nhất mà nên kết hợp với các bản phân tích tài chính và các chỉ số khác.Hệ số giá trên thu nhập (P/E) là một trong những chỉ số phân tích quan trọng trong quyết định đầu tư chứng khoán của nhà đầu tư. Thu nhập từ cổ phiếu sẽ có ảnh hưởng quyết định đến giá thị trường của cổ phiếu đó. 


Hệ số P/E đo lường mối quan hệ giữa giá thị trường (Market Price - P) và thu nhập của mỗi cổ phiếu (Earning Per Share - EPS) và được tính như sau: P/E = P/EPSTrong đó giá thị trường P của cổ phiếu là giá mà tại đó cổ phiếu đang được mua bán ở thời điểm hiện tại; thu nhập của mỗi cổ phiếu EPS là phần lợi nhuận ròng sau thuế mà công ty chia cho các cổ đông thường trong năm tài chính gần nhất.P/E cho thấy giá cổ phiếu hiện tại cao hơn thu nhập từ cổ phiếu đó bao nhiêu lần, hay nhà đầu tư phải trả giá cho một đồng thu nhập bao nhiêu. P/E được tính cho từng cổ phiếu một và tính trung bình cho tất cả các cổ phiếu và hệ số này thường được công bố trên báo chí.Nếu hệ số P/E cao thì điều đó có nghĩa là người đầu tư dự kiến tốc độ tăng cổ tức cao trong tương lai; cổ phiếu có rủi ro thấp nên người đầu tư thoả mãn với tỷ suất vốn hoá thị trường thấp; dự đoán công ty có tốc độ tăng trưởng trung bình và sẽ trả cổ tức cao.Hệ số P/E rất có ích cho việc định giá cổ phiếu. Giả sử người đầu tư có cổ phiếu AAA không được giao dịch sôi động trên thị trường, vậy cổ phiếu đó có giá bao nhiêu là hợp lý? Lúc đó cần nhìn vào hệ số P/E được công bố đối với nhóm các loại cổ phiếu tương tự với cổ phiếu AAA, sau đó nhân thu nhập của công ty với hệ số P/E sẽ cho chúng ta giá của loại cổ phiếu AAA.

ROA & ROE

ROA là tỷ số lợi nhuận ròng trên tài sản (Return on total assets)ROA đo lường khả năng sinh lợi trên mỗi đồng tài sản của công ty.Công thức:
  • ROA = Lợi nhuận ròng dành cho cổ đông thường/Tổng tài sản
ROA cung cấp cho nhà đầu tư thông tin về các khoản lãi được tạo ra từ lượng vốn đầu tư (hay lượng tài sản). ROA đối với các công ty cổ phần có sự khác biệt rất lớn và phụ thuộc nhiều vào ngành kinh doanh. Đó là lý do tại sao khi sử dụng ROA để so sánh các công ty, tốt hơn hết là nên so sánh ROA của mỗi công ty qua các năm và so giữa các công ty tương đồng nhau.Tài sản của một công ty được hình thành từ vốn vay và vốn chủ sở hữu. Cả hai nguồn vốn này được sử dụng để tài trợ cho các hoạt động của công ty. Hiệu quả của việc chuyển vốn đầu tư thành lợi nhuận được thể hiện qua ROA. ROA càng cao thì càng tốt vì công ty đang kiếm được nhiều tiền hơn trên lượng đầu tư ít hơn.Ví dụ nếu công ty A có thu nhập ròng là 1 triệu USD, tổng tài sản là 5 triệu USD, khi đó ROA là 20%. Tuy nhiên nếu công ty B cũng có khoản thu nhập tương tự trên tổng tài sản là 10 triệu USD, ROA của B sẽ là 10%. Như vậy công ty A hiệu quả hơn trong việc biến đầu tư thành lợi nhuận.Các nhà đầu tư cũng nên chú ý tới tỷ lệ lãi suất mà công ty phải trả cho các khoản vay nợ. Nếu một công ty không kiếm được nhiều hơn số tiền mà chi cho các hoạt động đầu tư, đó không phải là một dấu hiệu tốt. Ngược lại, nếu ROA mà tốt hơn chi phí vay thì có nghĩa là công ty đang bỏ túi một món hời.ROE là tỷ số lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu (Return on common equity)ROE là tỷ số quan trọng nhất đối với các cổ đông, tỷ số này đo lường khả năng sinh lợi trên mỗi đồng vốn của cổ đông thường.Công thức:

  • ROE = Lợi nhuận ròng dành cho cổ đông thường /Vốn cổ phần thường

Chỉ số này là thước đo chính xác để đánh giá một đồng vốn bỏ ra và tích lũy tạo ra bao nhiêu đồng lời. Hệ số này thường được các nhà đầu tư phân tích để so sánh với các cổ phiếu cùng ngành trên thị trường, từ đó tham khảo khi quyết định mua cổ phiếu của công ty nào.Tỷ lệ ROE càng cao càng chứng tỏ công ty sử dụng hiệu quả đồng vốn của cổ đông, có nghĩa là công ty đã cân đối một cách hài hòa giữa vốn cổ đông với vốn đi vay để khai thác lợi thế cạnh tranh của mình trong quá trình huy động vốn, mở rộng quy mô. Cho nên hệ số ROE càng cao thì các cổ phiếu càng hấp dẫn các nhà đầu tư hơn.Khi tính toán được tỷ lệ này, các nhà đầu tư có thể đánh giá ở các góc độ cụ thể như sau:- ROE nhỏ hơn hoặc bằng lãi vay ngân hàng, vậy nếu công ty có khoản vay ngân hàng tương đương hoặc cao hơn vốn cổ đông, thì lợi nhuận tạo ra cũng chỉ để trả lãi vay ngân hàng.- ROE cao hơn lãi vay ngân hàng thì phải đánh giá xem công ty đã vay ngân hàng và khai thác hết lợi thế cạnh tranh trên thị trường chưa để có thể đánh giá công ty này có thể tăng tỷ lệ ROE trong tương lai hay không.

P/B

Chỉ số P/B (Price-to-Book ratio – Giá/Giá trị sổ sách) là tỷ lệ được sử dụng để so sánh giá của một cổ phiếu so với giá trị ghi sổ của cổ phiếu đó. Tỷ lệ này được tính toán bằng cách lấy giá đóng cửa hiện tại của cổ phiếu chia cho giá trị ghi sổ tại quý gần nhất của cổ phiếu đó.Công thức tính như sau:
  • P/B = Giá cổ phiếu / (Tổng giá trị tài sản – giá trị tài sản vô hình – nợ)
Ví dụ: Giả sử một công ty có giá trị tài sản ghi nhận trên bảng cân đối kế toán là 200 tỷ VND, tổng nợ 150 tỷ VND, như vậy giá trị ghi sổ của công ty là 50 tỷ . Hiện tại công ty có 2 triệu cổ phiếu đang lưu hành, như vậy giá trị ghi sổ của mỗi cổ phiếu là 25.000 VND. Nếu giá thị trường của cổ phiếu đang là 75.000 VND, thì P/B của cổ phiếu được tính như sau:P/B = 75.000/25.000 = 3Đối với các nhà đầu tư, P/B là công cụ giúp họ tìm kiếm các cổ phiếu có giá thấp mà phần lớn thị trường bỏ qua.
  • Nếu một doanh nghiệp đang bán cổ phần với mức giá thấp hơn giá trị ghi sổ của nó (tức là có tỷ lệ P/B nhỏ hơn 1), khi đó có hai trường hợp sẽ xảy ra: hoặc là thị trường đang nghĩ rằng giá trị tài sản của công ty đã bị thổi phồng quá mức, hoặc là thu nhập trên tài sản của công ty là quá thấp. 
Nếu như điều kiện đầu tiên xảy ra, các nhà đầu tư nên tránh xa các cổ phiếu này bởi vì giá trị tài sản của công ty sẽ nhanh chóng được thị trường điều chỉnh về đúng giá trị thật.
Còn nếu điều thứ hai đúng, thì có khả năng lãnh đạo mới của công ty hoặc các điều kiện kinh doanh mới sẽ đem lại những triển vọng kinh doanh cho công ty, tạo dòng thu nhập dương và tăng lợi nhuận cho các cổ đông.
  • Ngược lại, nếu một công ty có giá thị trường của cổ phiếu cao hơn giá trị ghi sổ thì đây thường là dấu hiệu cho thấy công ty làm ăn khá tốt, thu nhập trên tài sản cao.
Chỉ số P/B chỉ thực sự có ích khi nhà đầu tư xem xét các doanh nghiệp có mức độ tập trung vốn cao hoặc các công ty tài chính, bởi giá trị tài sản của các công ty này tương đối lớn.Vì công tác kế toán phải tuân thủ những tiêu chuẩn ngặt nghèo, nên giá trị ghi sổ của tài sản hoàn toàn không tính tới các tài sản vô hình như thương hiệu, nhãn hiệu, uy tín, bằng sáng chế và các tài sản trí tuệ khác do công ty tạo ra. Giá trị ghi sổ không có ý nghĩa nhiều lắm với các công ty dịch vụ vì giá trị tài sản hữu hình của họ không lớn.

Hệ số Beta

Beta hay còn gọi là hệ số beta, đây là hệ số đo lường mức độ biến động hay còn gọi là thước đo rủi ro hệ thống của một chứng khoán hay một danh mục đầu tư trong tương quan với toàn bộ thị trường. Hệ số beta là một tham số quan trọng trong mô hình định giá tài sản vốn (CAPM). Beta được tính toán dựa trên phân tích hồi quy, và bạn có thể nghĩ về beta giống như khuynh hướng và mức độ phản ứng của chứng khoán đối với sự biến động của thị trường.
  • Một chứng khoán có beta bằng 1, muốn ám chỉ rằng giá chứng khoán đó sẽ di chuyển cùng bước đi với thị trường. 
  • Một chứng khoán có beta nhỏ hơn 1 có nghĩa là chứng khoán đó sẽ có mức thay đổi ít hơn mức thay đổi của thị trường. 
  • Một chứng khoán có beta lớn hơn 1 cho chúng ta biết giá chứng khoán thay đổi nhiều hơn mức dao động của thị trường.
Nhiều cổ phiếu thuộc các ngành cung cấp dịch vụ công ích có beta nhỏ hơn 1. Ngược lại, hầu hết các cổ phiếu dựa trên kỹ thuật công nghệ cao có beta lớn hơn 1, thể hiện khả năng tạo được một tỷ suất sinh lợi cao hơn, những cũng đồng thời tiềm ẩn rủi ro cao hơn.

Hệ số thanh khoản

Hệ số thanh khoản được tính dựa trên khối lượng giao dịch trung bình 13 tuần của 1 cổ phiếu so với khối lượng đang lưu hành của cổ phiếu đó, và khối lượng giao dịch trung bình 13 tuần của cố phiếu đó so với giao dịch của những cổ phiếu còn khác.Công thứcA = (Khối lượng giao dịch trung bình 13 tuần)/khối lượng đang lưu hànhB = So sách Khối lượng giao dịch trung bình 13 tuần của tất cả các cổ phiếu và sắp xếp theo thứ tự tăng dần.Hệ số thanh khoản = (A + Bx2)/3

Hệ số beta là gì?

Beta hay còn gọi là hệ số beta, đây là hệ số đo lường mức độ biến động hay còn gọi là thước đo rủi ro hệ thống của một chứng khoán hay một danh mục đầu tư trong tương quan với toàn bộ thị trường

Hệ số beta là một tham số quan trọng trong mô hình định giá tài sản vốn ( CAPM).

Beta được tính toán dựa trên phân tích hồi quy, và bạn có thể nghĩ về beta giống như khuynh hướng và mức độ phản ứng của chứng khoán đối với sự biến động của thị trường. 

  • Một chứng khoán có beta bằng 1, muốn ám chỉ rằng giá chứng khoán đó sẽ di chuyển cùng bước đi với thị trường. 
  • Một chứng khoán có beta nhỏ hơn 1 có nghĩa là chứng khoán đó sẽ có mức thay đổi ít hơn mức thay đổi của thị trường. 
  • Một chứng khoán có beta lớn hơn 1 sẽ chúng ra biết giá chứng khoán sẽ thay đổi nhiều hơn mức dao động của thị trường. 


Ví dụ, nếu beta của một chứng khoán là 1.2, điều đó có nghĩa là nó có biên độ dao động nhiều hơn thị trường 20%.

Nhiều cổ phiếu thuộc các ngành cung cấp dịch vụ công ích có beta nhỏ hơn 1. Ngược lại, hầu hết các cổ phiếu dựa trên kỹ thuật công nghệ cao có beta lớn hơn 1, thể hiện khả năng tạo được một tỷ suất sinh lợi cao hơn, những cũng đồng thời tiềm ẩn rủi ro cao hơn.

Friday, July 22, 2011

Bản cáo bạch là gì?

nice.jpg
Khi phát hành chứng khoán ra công chúng, công ty phát hành phải công bố cho người mua chứng khoán những thông tin về bản thân công ty, nêu rõ những cam kết của công ty và những quyền lợi cơ bản của người mua chứng khoán...để trên cơ sở đó người đầu tư có thể ra quyết định đầu tư hay không. Tài liệu phục vụ cho mục đích đó gọi là Bản cáo bạch hay Bản công bố thông tin. 

Bản cáo bạch chính là một lời mời hay chào bán để công chúng đầu tư đăng ký hoặc mua chứng khoán của công ty phát hành. Bản cáo bạch bao gồm mọi thông tin liên quan đến đợt phát hành. Do đó, thông tin đưa ra trong Bản cáo bạch sẽ gắn với các điều khoản thực hiện lời mời hay chào bán. 

Thông thường, một công ty muốn phát hành chứng khoán phải lập Bản cáo bạch để Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước xem xét, gọi là Bản cáo bạch sơ bộ. Bản cáo bạch sơ bộ khi đã được Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước chấp thuận sẽ được coi là Bản cáo bạch chính thức. Khi thực hiện chào bán chứng khoán, ngoài Bản cáo bạch chính thức, công ty phát hành thường cung cấp Bản cáo bạch tóm tắt. Nội dung Bản cáo bạch tóm tắt là tóm gọn lại những nội dung chính của Bản cáo bạch chính thức nhưng vẫn phải đảm bảo tuân thủ theo các quy định của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước. 

2. Tại sao cần phải đọc Bản cáo bạch 

Bản cáo bạch là một tài liệu rất quan trọng. Với tư cách là một nhà đầu tư, Bản cáo bạch là phương tiện giúp bạn đánh giá mức độ sinh lời và triển vọng của công ty trước khi bạn quyết định có đầu tư vào công ty hay không. Một quyết định thiếu thông tin có thể làm bạn phải trả giá đắt. 

Bởi vậy, bạn nên đọc Bản cáo bạch một cách kỹ lưỡng và tìm hiểu rõ những may rủi thực sự của công ty trước khi ra quyết định đầu tư. Bạn nên đánh giá cẩn thận những yếu tố cơ bản của công ty đăng ký niêm yết thông qua nghiên cứu các thông tin trong Bản cáo bạch. Mặc dù những đợt chào bán lần đầu ra công chúng thường là cơ hội đầu tư tốt vì chúng thường mang lại lợi nhuận ban đầu cao, do cổ phiếu tăng giá, nhưng rủi ro vẫn tồn tại. 

3. Bản cáo bạch thường gồm 8 mục chính sau: 


  1. Trang bìa;
  2. Tóm tắt Bản cáo bạch;
  3. Các nhân tố rủi ro;
  4. Các khái niệm;
  5. Chứng khoán phát hành;
  6. Các đối tác liên quan tới đợt phát hành;
  7. Tình hình và đặc điểm của tổ chức phát hành;
  8. Phụ lục.

4. Cách sử dụng bản cáo bạch

Bạn nên bắt đầu phân tích một công ty phát hành bằng Bản cáo bạch của công ty. Trong quá trình thực hiện bạn nên tự đặt ra cho mình một số câu hỏi quan trọng. Ví dụ, việc kinh doanh của công ty đó có tiến triển hay không?, doanh số bán hàng tăng có nghĩa là lợi nhuận cũng tăng và dẫn tới giá cổ phiếu tăng. Nhưng các con số chưa phải nói lên tất cả. Do vậy, bạn nên nghiên cứu kỹ Bản cáo bạch để tìm ra những dấu hiệu tăng trưởng của công ty. 

Bạn cũng nên tìm hiểu về Ban giám đốc của công ty phát hành, các sản phẩm của công ty và tự đặt ra câu hỏi liệu các sản phẩn này có tiếp tục bán được nữa không? 

5. Những thông tin cần xem 

  • Trang bìa (mặt trước và mặt sau);
  • Thời gian chào bán;
  • Các khái niệm;
  • Tình hình và đặc điểm của tổ chức phát hành;
  • Bảng mục lục;
  • Tóm tắt Bản cáo bạch;
  • Tóm tắt về vốn cổ phần, thống kê sô liệu phát hành / chào bán, số nợ và phương án sử dụng tiền thu được từ đợt phát hành;
  • Chứng khoán phát hành;
  • Thông tin về ngành kinh doanh;
  • Thông tin tài chính;
  • Thông tin về cổ đông, Hội đồng quản trị và Ban giám đốc;
  • Các đối tác liên quan tới đợt phát hành;
  • Các nhân tố rủi ro liên quan đến ngành kinh doanh và triển vọng của công ty;
  • Phụ lục;
  • Thủ tục nộp hồ sơ và chấp thuận.

6. Thông tin chính của trang bìa 

  • Các chứng khoán sẽ được bán; 
  • Số lượng chứng khoán sẽ được bán;
  • Giá bán các chứng khoán;
  • Tổ chức liên quan đến đợt phát hành.
7. Tóm tắt bản cáo bạch 

Phần này giúp bạn tìm hiểu khái quát những thông tin tóm tắt về công ty. 

  • Giới thiệu chung về công ty phát hành, các hoạt động kinh doanh, người hỗ trợ phát hành, các cổ đông lớn và Ban giám đốc của công ty;
  • Tóm tắt về thông tin tài chính của công ty phát hành, kể cả triển vọng của công ty;
  • Tóm tắt về các yếu tố rủi ro liên quan hoặc ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh và tài chính của công ty phát hành;
  • Tóm tắt về vốn cổ phần, thống kê phát hành hoặc chào bán, số nợ, số tiền thu được từ đợt phát hành và mục đích sử dụng số tiền này.
  • Ngoài ra bạn nên đối chiếu với các phần tương ứng khác trong Bản cáo bạch để có được các thông tin chi tiết mà bạn cần quan tâm.
Thông tin về ngành kinh doanh - công ty đang có những hoạt động kinh doanh gì? 
Thông tin đưa ra thường bao gồm: 

  • Tình hình (các) ngành kinh doanh chính mà công ty phát hành tham gia;
  • Triển vọng của (các) ngành liên quan có ảnh hưởng tới hoạt động ngành kinh doanh chính của công ty phát hành;
  • Loại sản phẩm, dịch vụ kinh doanh chính của công ty;
  • Khách hàng và nhà cung cấp của công ty phát hành;
  • Công nghệ, phương thức sản xuất và kênh phân phối sử dụng;
  • Các nhân tố thương mại như hệ thống bán lẻ, đại lý, hệ thống phân phối, nhãn hiệu sản phẩm, giấy phép kinh doanh, bằng sáng chế và khả năng nghiên cứu và phát triển.
  • Đối với các công ty đăng ký niêm yết được hưởng chính sách ưu đãi thì phần thông tin về ngành kinh doanh này trong Bản cáo bạch cũng cần phải công bố chi tiết các vấn đề về công nghệ của những công ty này.
8. Thông tin tài chính – công chúng đầu tư tham gia có làm lợi nhuận giảm? 

Thông tin tài chính là một phần quan trọng trong Bản cáo bạch và thường được chia thành 2 phần: 

  1. Thông tin tài chính trong quá khứ;
  2. Thông tin tài chính trong tương lai.
Phần thông tin tài chính trong quá khứ 

Thường bao gồm tóm tắt các bản báo cáo tài chính đã được kiểm toán, và bảng cân đối kế toán (trên cơ sở tổng hợp) theo mẫu, được trích ra từ Báo cáo của kiểm toán trong phần phụ lục của Bản cáo bạch. Một số ngành kinh doanh còn yêu cầu cung cấp cả thông tin về luồng thu nhập. Việc công bố thông tin tài chính trong quá khứ thường được tính từ 2 năm tài chính trước. Thông tin phải đi kèm với phần giải thích và phân tích hoạt động tài chính trong quá khứ. Nếu có bất cứ một sai sót nào trong các thông tin tài chính được công bố mà Uỷ ban Chứng khoán phát hiện được thì tổ chức kiểm toán cũng như tổ chức bảo lãnh phát hành phải chịu trách nhiệm liên đới trước pháp luật cùng với tổ chức phát hành. 

Phần thông tin tài chính tương lai

Gồm các dự tính về: 

  • Doanh thu;
  • Lợi nhuận trước thuế trước và sau khi tính lãi cho cổ đông thiểu số ngoài công ty;
  • Lợi nhuận sau thuế;
  • Tổng cổ tức và cổ tức ròng.
Từ dự tính về lợi nhuận và giá chào bán cổ phiếu của công ty phát hành, bạn có thể tính ra các mức giá thị trường của một cổ phiếu tính theo thu nhập trên mỗi cổ phiếu trong năm của công ty phát hành (được ký hiệu là P /E). Hệ số này cho thấy khi nào thì giá cổ phiếu phù hợp với thu nhập. Tức là các công ty có nhiều cơ hội tăng trưởng thường có P /E cao hơn các công ty có ít cơ hội tăng truởng. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý trường hợp P /E cao có thể là do mức thu nhập (E) thấp. Căn cứ vào hệ số P /E, cùng với sự phân tích về mặt chất lượng của công ty phát hành, bạn có thể đánh giá đợt phát hành, chào bán cổ phiếu của công ty so với các mức cổ phiếu đã được niêm yết của các công ty trong cùng ngành. 

9. Cổ đông, Hội đồng quản trị và Ban giám đốc – những ai là người điều hành đợt phát hành 

Bạn nên đọc danh sách các cổ đông, Hội đồng quản trị và Ban giám đốc. Mặc dù các dữ liệu đưa ra không phải là con dấu đảm bảo về chất lượng kỹ năng quản lý của họ, nhưng bạn vẫn có thể biết được trình độ chuyên môn và kinh nghiệm quản lý của những con người này. 

Bạn cần chú ý các quyền lợi của các cổ đông lớn, Hội đồng quản trị và đội ngũ lãnh đạo chủ chốt trong các ngành tương tự hoặc các ngành cạnh tranh nếu chúng được nêu trong Bản cáo bạch. Bạn cũng nên chú ý các giao dịch trong quá khứ hoặc trong tương lai với các công ty liên quan. Bản cáo bạch sẽ cung cấp đầy đủ các nhóm thành viên sau: 

  • Cổ đông lớn và các nhà sáng lập của công ty phát hành, kể cả tên và cổ phần của các cá nhân đứng đằng sau công ty;
  • Hội đồng quản trị bao gồm cổ phần mà họ đại diện, chi tiết về trình độ, kinh nghiệm và phần trách nhiệm của mỗi giám đốc, và họ có phải là các giám đốc điều hành hay không;
  • Đội ngũ cán bộ quản lý dưới cấp uỷ viên Hội đồng quản trị, chi tiết về trình độ, kinh nghiệm và phần trách nhiệm của họ;
  • Tỷ lệ sở hữu cổ phiếu, trái phiếu của từng thành viên nói trên.
10. Các yếu tố rủi ro 

Các rủi ro chung bao gồm: 

  • Việc tăng, giảm giá chứng khoán phụ thuộc vào các điều kiện của thị trường chứng khoán nói chung, của tình trạng kinh tế đất nước và thế giới; 
  • Những thay đổi trong chính sách của Chính phủ;
  • Những rủi ro về ngoại hối;
  • Những thay đổi về tỷ lệ lãi suất;
  • Những rủi ro có thể xảy ra của công ty bao gồm:
  • Sự phụ thuộc vào những cán bộ chủ chốt;
  • Sự phụ thuộc vào một số ít các khách hàng, nhà cung cấp hoặc các dự án trong nội bộ công ty;
  • Những thay đổi về giá nguyên liệu thô;
  • Sự hợp nhất giưã các đối thủ cạnh tranh hoặc các công ty mới tham gia vào ngành;
  • Tranh chấp cụ thể đã bắt đầu phát sinh hoặc bị mang ra toà.
  • Trong phần này bạn cần tìm hiểu xem Hội đồng quản trị của công ty định giải quyết hoặc làm giảm ảnh hưởng của các nhân tố rủi ro đã xác định như thế nào.

Lệnh thị trường (Market order)


Lệnh thị trường là lệnh mua hay bán một loại cổ phiếu ở mức giá thị trường, nếu bạn không chỉ thị một cách rõ ràng thì người môi giới của bạn sẽ tự động thực hiện lệnh của bạn như một lệnh thị trường. Ưu điểm của lệnh thị trường là chừng nào mà có người sẵn lòng mua hoặc bán thì bạn gần như có thể chắc chắn là chỉ thị của bạn sẽ được thực hiện.


Tùy thuộc vào số hoa hồng mà bạn phải trả cho công ty môi giới hoặc người môi giới chứng khoán mà lệnh thị trường có thể ít tốn kém hơn một lệnh giới hạn (Limit order). Tuy nhiên nhược điểm của loại lệnh này là mức giá khi bạn chỉ thị thực hiện lệnh không phải lúc nào cũng trùng khớp với mức giá vào thời điểm người môi giới thông báo cho bạn. Điều này đặc biệt đúng trong điều kiện thị trường và mức giá thay đổi nhanh chóng như hiện nay. Khi bạn chỉ thị thực hiện một lệnh thị trường, đặc biệt là với một số lượng cổ phiếu lớn, thì khả năng số lượng cổ phiếu này được thực hiện ở các mức giá khác nhau lại càng cao.

Lưu ký chứng khoán là gì?

Thị trường chứng khoán là một sân chơi cho tất cả những ai ưa mạo hiểm và kiếm tiền từ chính những mạo hiểm ấy với một niềm tin bất biến “nơi nào rủi ro cao nơi ấy lợi nhuận cao”. Nói như vậy không có nghĩa là tham gia thị trường chứng khoán giống như tự do bước chân vào “chợ”, mà phải tuân theo những thủ tục nhất định. Một chu trình giao dịch chứng khoán trải qua nhiều thủ tục: lưu ký chứng khoán, đặt lệnh, khớp lệnh, bù trừ chứng khoán và cuối cùng là thanh toán chứng khoán. Trong đó lưu ký chứng khoán là điều kiện tiên quyết để có một chiếc vé vào cửa thị trường chứng khoán.
Vậy trước hết, lưu ký chứng khoán là gì?
Lưu ký (Deposit) là việc gửi chứng chỉ chứng khoán như tờ cổ phiếu,trái phiếu, hoặc các loại giấy tờ hợp pháp chứng minh quyền sở hữu chứng khoán vào hệ thống lưu ký. Chứng khoán đã được lưu ký sẽ được ghi nhận vào tài khoản lưu ký chứng khoán đứng tên nhà đầu tư. Khi chứng khoán được giao dịch, tài khoản của nhà đầu tư sẽ được ghi tăng hoặc giảm mà không cần phải trao tay tờ chứng chỉ chứng khoán. Lưu ký chứng khoán là bắt buộc trước khi muốn chứng khoán được giao dịch qua sàn giao dịch của Trung tâm giao dịch chứng khoán, nó như một bước khởi đầu nhằm tiện lợi và đơn giản hóa các thủ tục về sau.

Thị trường chứng khoán Việt Nam tính đến năm 2007 mới được 7 tuổi đời nhưng đã có những bước tiến nhanh chóng trong việc kiện toàn chu trình giao dịch để “dọn đường quang lối” cho thị trường “lớn nhanh như thổi” này phát triển. Việc cải tiến hệ thống lưu ký chứng khoán ở Việt Nam ngay sau khi Luật chứng khoán ra đời (2007) là một bằng chứng mạnh mẽ nhất cho nỗ lực này.
Hệ thống lưu ký chứng khoán
sodo1.jpg
Hệ thống lưu ký chứng khoán trước đây ở Việt Nam được quy định rõ trong Chương V- Đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán chứng khoán – Nghị định 144CP, gồm hai bước cụ thể. Thứ nhất, việc lưu ký chứng khoán của các nhà đầu tư chỉ được thực hiện tại các thành viên lưu ký của Trung tâm giao dịch chứng khoán nên chứng khoán của các nhà đầu tư sẽ được tập trung tại Trung tâm giao dịch chứng khoán và Trung tâm lưu ký chứng khoán qua các thành viên lưu ký. Sau đó các thành viên lưu ký sẽ lưu ký chứng khoán khách hàng của mình tại Trung tâm giao dịch và Trung tâm giao dịch, nơi mà họ đã mở tài khoản lưu ký của chính mình. Lúc đó, Trung tâm giao dịch chứng khoán Việt Nam đóng vai trò là Trung tâm lưu ký. Các thành viên lưu ký bao gồm các công ty chứng khoán và các ngân hàng thương mại đã được Uỷ Ban Chứng Khoán Nhà Nước cấp phép hoạt động lưu ký và đã đăng ký làm thành viên lưu ký của Trung tâm giao dịch chứng khoán.

Tính đến đầu năm 2007, Trung tâm giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh có 14 thành viên lưu ký, trong đó 11 thành viên lưu ký là các công ty chứng khoán và 3 thành viên lưu ký là các ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam. Trước đây nhà đầu tư trong nước chỉ được lưu ký chứng khoán tại thành viên lưu ký trong nước - là các công ty chứng khoán hoặc các ngân hàng thương mại trong nước, nhà đầu tư nước ngoài chỉ được lưu ký tại thành viên lưu ký nước ngoài - là các công ty chứng khoán liên doanh với nước ngoài hoặc các ngân hàng thương mại liên doanh với nước ngoài hoặc các chi nhánh ngân hàng nước ngoài đang hoạt động hợp pháp tại Việt Nam.

Quy định này đã được thay đổi, theo Quyết định số 51/2003/QĐ-BTC ngày 15/04/2003 của Bộ Tài Chính về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế lưu ký, thanh toán bù trừ và đăng ký chứng khoán, nhà đầu tư trong và ngoài có thể mở tài khoản lưu ký chứng khoán ở bất kỳ thành viên lưu ký nào. Sau khi thành viên hoàn tất việc tái lưu ký tại Trung tâm giao dịch chứng khoán thì chứng khoán đó mới được phép giao dịch.

Theo quy định, mỗi nhà đầu tư chỉ được mở một tài khoản lưu ký tại một thành viên lưu ký. Do vậy nhà đầu tư cần tìm hiểu trước để lựa chọn một thành viên lưu ký thích hợp cho mình. Trong trường hợp muốn đổi sang một thành viên lưu ký khác, nhà đầu tư sẽ mở tài khoản lưu ký mới tại thành viên lưu ký mới, đồng thời phải làm các thủ tục đóng tài khoản lưu ký tại thành viên lưu ký cũ và yêu cầu thành viên lưu ký này chuyển số dư chứng khoán sang tài khoản lưu ký tại thành viên lưu ký mới. Ngoài ra, có những trường hợp ngoại lệ, các đối tượng như Ngân hàng Nhà nước hay tổ chức tín dụng được phép tham gia đấu thầu, phát hành hoặc bảo lành phát hành trái phiếu Chính phủ cũng có thể mở tài khoản lưu ký tại Trung tâm giao dịch như các thành viên khác.
Hệ thống lưu ký này là một cơ cấu “hai cửa”, hoặc có thể gọi “đa cấp”, nhà đầu tư không thể trực tiếp lưu ký chứng khoán tại Trung tâm mà phải qua các thành viên lưu ký và tất nhiên chịu một mức phí nhất định, và đối với các ngân hàng thương mại dịch vụ nhận lưu ký là một hình thức kinh doanh ngày càng hấp dẫn.
Hệ thống lưu ký hỗn hợp
sodo22.jpg
Theo Luật chứng khoán 2007, Trung tâm lưu ký chứng khoán sẽ tách ra hoạt động độc lập so với Trung tâm giao dịch chứng khoán, và tiến hành cung cấp dịch vụ như một tổ chức phi lợi nhuận. Hệ thống lưu ký vẫn mang bản chất một cơ cấu “đa cấp”.

Một phương án kết hợp có thể tính tới. Nhà đầu tư mở tài khoản lưu ký tại các thành viên lưu ký và sau đó các thành viên lưu ký sẽ tiến hành lưu ký từng tài khoản riêng biệt của từng nhà đầu tư tại Trung tâm lưu ký. Như vậy các nhà đầu tư dễ dàng kiểm tra tài khoản của mình ngay tại Trung tâm giao dịch, và mức phí lưu ký cũng giảm thiểu đáng kể. Hệ thống này được gọi là cơ cấu lưu ký hỗn hợp, vì đó là sự kết hợp giữa mô hình “đa cấp” và “đơn cấp”.

Theo các chuyên gia về công nghệ thông tin, việc xây dựng một Trung tâm lưu ký độc lập ở Việt Nam sẽ đắt đỏ, tối thiểu chi phí phải cao gấp hơn 3 lần chi phí cần thiết để thành lập một công ty chứng khoán trung bình. Chính vì vậy điều kiện tiên quyết để Việt Nam hay bất kì một quốc gia nào sỏ hữu một Trung tâm lưu ký “hoàn hảo” là qui mô thị trường rộng lớn, số lượng các nhà đầu tư cao, khối lượng giao dịch tương đối nhiều; tóm lại đó phải là một thị trường sôi động. Và điều quan trọng hơn cả là việc tạo lập một Trung tâm lưu ký là bước đi khởi đầu hướng tới hiện đại và đơn giản hóa tuyệt đối chu trình giao dịch chứng khoán bằng mô hình “đơn cấp” với mục tiêu trên hết an toàn, hiệu quả cho các nhà đầu tư.
Mô hình hỗn hợp này có những ưu điểm gì? Một điều dễ nhận thấy là với cơ cấu đa cấp thì số lượng các tài khoản mà Trung tâm phải quản lý ít hơn rất rất nhiều, nhưng theo các chuyên gia công nghệ thông tin, đó không phải là mối lo ngại khi chuyển sang mô hình hỗn hợp. Tài khoản lưu ký chứng khoán gần giống như tài khoản tiền gửi ở ngân hàng. Hệ thống ngân hàng tại Việt Nam đang đảm nhận hơn 25 triệu tài khoản, không có gì là khó khăn khi toàn bộ được quản lý bằng hệ thống máy tính và mạng. Thậm chí một công ty chứng khoán hoàn toàn tự tin khi họ đóng góp vào sự phát triển của thị truờng chứng khoán Việt Nam bằng việc giám sát minh bạch từng tài khoản của các nhà đầu tư.

Thứ hai, áp dụng mô hình hỗn hợp giúp các công ty thành viên giảm được một lượng đáng kể phí hoạt động chức năng, bởi lẽ khi mỗi nhà đầu tư đều sở hữu một tài khoản riêng biệt, hệ thống máy tính đa dạng hóa dễ dàng tùy biến để quản lý, điều chỉnh cho phù hợp với đặc điểm tình hình của từng tài khoản hơn. Mọi hoạt động đều diễn ra suôn sẻ, “chỉ cần cập nhật vào hệ thống, hệ thống sẽ tự động xử lý và các phòng ban hỗ trợ hoàn toàn thảnh thơi”.

Thứ ba, các công ty chứng khoán không sẽ quan tâm đến phí dịch vụ nhiều, vì Trung tâm lưu ký hoạt động vì mục tiêu phi lợi nhuận, và nhà đầu tư là người lợi trước tiên. Phí dịch vụ cố định khoảng 0,2% nhưng đa số các công ty thành viên đều không thu phí hoặc giảm phí như một phương thức để chiêu khách.

Và điều cuối cùng cũng là quan trọng nhất, Chính phủ có thể ưu thích áp dụng mô hình này như một cách thức để giám sát nhà đầu tư thông qua việc nắm biết chính xác và đầy đủ tình hình tài khoản chứng khoán của họ. Bởi lẽ, thật khó để mà đoán xét được thành viên Hội đồng quản trị các công ty có đang giao dịch chính cổ phiểu của họ không, và những thông tin nội bộ kiểu như vậy sẽ được giấu nhẹm đi nếu không có sự quản lý chặt chẽ.

Hệ thống lưu ký chứng khoán ở một số nước trên thế giới
Mô hình lưu ký đơn cấp- tức là các nhà đầu tư sẽ trực tiếp lưu ký và mở tài khoản tại Trung tâm lưu ký chứng khoán, không phải thông qua bất kỳ một thành viên lưu ký nào, và mọi giao dịch đều được thông qua tài khoản này -là ưu việt nhất về mặt thuận tiện thủ tục cũng như an toàn đầu tư. Tuy nhiên hiện nay trên thế giới chưa có nước nào áp dụng mô hình tiên tiến nhất này, mà chỉ tồn tại mô hình đa cấp như ở Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái Lan, Malaysia, Inđônêsia, Mỹ và các nước Châu Âu và mô hình hỗn hợp như ở Việt Nam, Singapore phụ thuộc vào điều kiện nguồn lực và mục tiêu mỗi nước.
Tại Singapore, Trung tâm lưu ký chứng khoán cho phép mỗi nhà đầu tư cá nhân đều có thể mở riêng một tài khoản tại quầy dịch vụ của trung tâm hay tại các thành viên của nó. Còn tại Braxin, mỗi một loại chứng khoán khác nhau (trái phiếu Chính phủ, cổ phiếu…) được lưu ký, bù trừ và thanh toán trên những tài khoản cụ thể ở các hệ thống chức năng khác nhau và ở quốc gia này không có Trung tâm Lưu ký chứng khoán! Braxin có nên lập một Trung tâm với mô hình hỗn hợp tương tự Việt Nam? Không chắc chắn với câu trả lời tán thành hay phản đối nhưng có một điều chắc chắn là sẽ không có hệ thống đơn cấp ở đây.

Tại Mexico, các trung tâm môi giới sẽ đảm nhận việc mua và bán chứng khoán và cung cấp mọi loại dịch vụ giao dịch chứng khoán cho khách hàng, từ việc tư vấn, quản lý danh mục đầu tư, cấp tín dụng, cho vay chứng khoán, giao dịch chứng khoán phái sinh cho đến việc đóng vai trò chuyên gia phân tích và nhận ủy thác chứng khoán. Hiện tại, INDEVAL là tổ chức duy nhất đóng vai trò Trung tâm Lưu ký chứng khoán ở Mexico, đây là một công ty tư nhân được hợp nhất từ các tổ chức tài chính khác nhau, bao gồm công ty môi giới, ngân hàng, công ty bảo hiểm, công ty tư vấn BMV, Hiệp hội tài chính quốc gia Nafinsa… Mọi hoạt động lưu ký đều phải thông qua Trung tâm này và hệ thống lưu ký ở quốc gia này rõ ràng là đa cấp. Giống như Mexico, tại Peru, ICLVs đảm nhận vai trò của trung tâm lưu ký độc nhất, là một công ty cổ phần với mục tiêu duy nhất là thực hiện đăng ký, lưu ký, bù trừ, thanh toán và chuyển nhượng chứng khoán thông qua một hệ thống xử lý trung tâm đặt bên ngoài Sàn giao dịch.
Như vậy mô hình đa cấp là xu hướng phổ biến trên thế giới hiện nay bởi lẽ nó cũng có nhiều ưu thế nhất định: nhà đầu tư chỉ cần liên hệ và giải quyết mọi vấn đề với một tổ chức duy nhất đó là thành viên lưu ký, việc chuyển giao chứng khoán và bù trừ tiền tiến hành ngay trên tài khoản không cần nhập vào sổ sách của công ty phát hành… Tuy nhiên cần phải lưu ý rằng việc phân chia và minh bạch tài sản cho mỗi nhà đầu tư, bảo vệ tài sản cho các nhà đầu tư, phân chia rủi ro và quản lý việc cầm cố thế chấp là những nghiệp vụ hết sức phức tạp, đòi hỏi phải xây dựng hệ thống quản lý tinh vi.
Quay trở lại với Việt Nam, chúng ta đã xây dựng được một hệ thống Luu ký chứng khoán hỗn hợp khá hoàn chỉnh, đó là kết quả của sự đồng lòng nhất trí giữa các chuyên gia và các nhà làm luật. Trung tâm lưu ký Việt Nam ra đời cùng với quá trình tin học hóa mọi giao dịch chứng khoán chính là bệ phóng cho thị trường chứng khoán non trẻ nhưng rất “sung sức” của Việt Nam tiến xa hơn nữa, cả về lượng và chất.

4 kịch bản M&A dành cho Sacombank (2011)

Giới phân tích cho rằng, từ các thương vụ thâu tóm kinh điển trên thế giới, hiện có tới 4 kịch bản dành cho Sacombank.
Kịch bản 1: Đối thủ - đối tác
Một trong các thương vụ thâu tóm đình đám trên thế giới trong vài năm gần đây là cuộc chiến giữa Microsoft và Yahoo!. Đầu năm 2008, Microsoft đưa ra đề nghị mua lại Yahoo! với giá 44,6 tỷ USD, tương đương 29,4 USD/CP. Tuy nhiên, phía Yahoo! đã thẳng thừng từ chối vì họ cho rằng đó là cái giá quá rẻ. Sau đó, Microsoft đẩy lên 33 USD/CP, nhưng Ban lãnh đạo Yahoo! kiên quyết chốt mức tối thiểu là 37 USD/CP. 
Sự bất đồng đã khiến thương vụ rơi vào ngõ cụt. Thậm chí, đã có lúc Yahoo! tuyên bố bắt tay với Google nếu như không bị Bộ Tư pháp Mỹ ngăn cản theo Luật chống độc quyền. Tuy nhiên, vào cuối năm 2008, khi Jerry Yang - CEO của Yahoo từ chức, hai đại gia trong ngành công nghệ Mỹ đã nối lại đàm phán. 
Sau 6 tháng, "cuộc hôn nhân" giữa hai người khổng lồ đã diễn ra. Nhưng đó không phải là vụ thâu tóm như mục đích ban đầu, mà là một hợp đồng trong lĩnh vực tìm kiếm với thời hạn 10 năm.
Với Sacombank, trước khi các tin tức về nguy cơ bị thâu tóm được loan tải rộng rãi, từ 2 tháng trước, giới thạo tin đã xì xào về việc một nhóm NĐT đứng đầu là một "đại gia" ngân hàng đã mua gom, nâng tỷ lệ sở hữu tại Sacombank lên 17 - 20%. 
Khi đó, giải thích cho động cơ trên, một trong các kịnh bản được đưa ra là việc hợp tác sở hữu chéo cổ phần cả hai phía với mục đích đỡ giá cổ phiếu. Nhưng trao đổi với báo giới mới đây, lãnh đạo Sacombank đã phủ nhận tình huống này.
Kịch bản 2: Đầu tư tài chính
Việc hãng xe hơi hạng sang Đức Porsche mua gom cổ phiếu của "người đồng hương" Volkswagen đã khiến báo giới thế giới tốn không ít giấy mực. Vào cuối năm 2005, giá cổ phiếu của Volkswagen khoảng 35 EUR/CP Porsche đã bí mật mua gom và sở hữu khoảng 20% số cổ phần Volkswagen. Sau đó, Porsche không giấu giếm ý định thâu tóm đối thủ. 
Chính danh là vậy, nhưng phía sau còn là đầu tư tài chính. Để đạt được mục đích, Porsche đã bỏ tiền mặt mua cổ phiếu thật, đồng thời tạo sự khan hiếm giả. Nạn nhân chính là những tay bán khống. Mỗi khi thấy giá cổ phiếu của Volkswagen tăng (do Porsche mua vào), các NĐT bán khống lại hốt hoảng "cover" lại hàng, đẩy giá tiếp tục tăng cao.
Vào mùa Thu năm 2008, khi nắm 51%, Porsche tuyên bố sẽ nâng sở hữu lên 75% cổ phần ở Volkswagen để kiểm soát hoàn toàn đối thủ. Giá cổ phiếu Volkswagen tăng vùn vụt 3 năm liền, vượt qua mốc 1.000 EUR/CP và chỉ chịu quay đầu thoái lui khi Porsche bất ngờ tuyên bố bán ra. Vào quý I/2009, thậm chí, lợi nhuận từ đầu tư tài chính vào cổ phiếu của Volkswagen đã đóng góp 6,84 tỷ EUR/7,34 tỷ EUR lợi nhuận trước thuế của Porsche.
Hiện tại, giới quan sát cho rằng, kịch bản cổ phiếu STB đang bị biến thành mục tiêu đầu cơ có xác suất cao nhất. Theo giả thiết này, một nhóm NĐT sở hữu một số lượng lớn cổ phiếu STB tạo mầm mống cho hoạt động thôn tính thật sự. Để vô hiệu hóa "cái gai" này, Ban lãnh đạo Sacombank buộc phải lên kế hoạch phòng thủ. 
Một trong các hướng khả thi nhất là đàm phán với nhóm NĐT này để mua lại một số lượng lớn cổ phần. Dĩ nhiên, vì mua lô lớn nên phải trả giá cao hơn nhiều so với mặt bằng hiện tại. 
Trong trường hợp cổ phiếu STB được chủ động đẩy lên cao để chống lại hoạt động thâu tóm, nhóm NĐT đang mua gom có thể hiện thực hóa lợi nhuận số cổ phiếu giá thấp mua quanh vùng đáy. Nếu đúng, đây là một "game" tài chính thông minh và rất mới mẻ tại TTCK Việt Nam.
Kịch bản 3: Sacombank thâu tóm ngược đối thủ
Nếu không có cuộc khủng khoảng tài chính thế giới kéo theo sự đi xuống trầm trọng trong ngành chế tạo ôtô kể từ cuối năm 2008 thì có lẽ Porsche đã thâu tóm Volkswagen thành công. Thế nhưng, ở đời, ít ai học được chữ ngờ. Thất bại trong việc thâu tóm Volkswagen đã khiến Porsche lâm vào cảnh nợ nần chồng chất. Đầu năm 2009, với số nợ khoảng 16,1 tỷ euro, không có sự lựa chọn nào khác, Porsche đành phải bán mình cho chính Volkswagen để tránh nguy cơ sụp đổ. 
Trái lại, Volkswagen đã "xoay ngược" thế cờ sở hữu 49% cổ phần của Porsche và đạt được thỏa thuận về quyền mua lại số cổ phiếu còn lại. Thoả thuận này đồng nghĩa với việc Porsche trở thành thương hiệu thứ 10 trong gia đình Volkswagen, bên cạnh những cái tên lừng lẫy như Audi, Bentley, Lamborghini…
Vốn hóa của Sacombank hiện tại khoảng 640 triệu USD, giả sử mức giá hiện nay không thay đổi, để sở hữu thêm 10% số cổ phần, bên mua phải bỏ ra thêm 64 triệu USD - số tiền trên không quá lớn với nhiều "đại gia" Việt ở thời điểm hiện tại.
Thế nhưng, sự việc không đơn giản như các bài tính số học. Theo các số liệu mới nhất, hiện các quỹ của Dragon đang nắm giữ hơn 6,87% số cổ phần, CTCP Cơ điện lạnh (REE) nắm giữ gần 4%, Ngân hàng ANZ nắm 9,78%, Ban lãnh đạo Ngân hàng và nhóm công ty liên quan nắm trên 20%... Hơn một nửa số cổ phiếu STB hiện tại do các nhà đầu tư nhỏ lẻ nắm giữ. Số lượng cổ phiếu lưu hành lớn khiến Sacombank khó có thể phòng thủ kín kẽ mọi bề, nhưng cũng khiến đối thủ gặp vô số khó khăn với các NĐT thuận xu hướng trên thị trường.
Sự "manh động" của bên mua có thể khiến họ trả giá đắt bởi những tay "ăn theo". Chi phí vốn hiện đang ở mức rất cao, cộng với việc Sacombank hiếm khi trả cổ tức tiền mặt khiến bên mua mất vô số chi phí cơ hội nếu không sớm đạt được mục đích. Nếu bên mua suy yếu tài chính, biết đâu Sacombank lại đảo ngược tình thế?
Kịch bản 4: Sacombank bị thâu tóm
Trong số những thương vụ M&A diễn ra trên thế giới gần đây, không hiếm nghịch lý "cá bé nuốt cá lớn". Tiêu biểu có thể kể đến một số trường hợp như hãng xe Ý Fiat mua cổ phần của các đối thủ lớn hơn như Chrysler và General Motor; Tập đoàn Sony sáp nhập vào Công ty Truyền thông AB L.M. Ericsson; Tập đoàn Thomson (Canada) mua Hãng tin Reuters (Anh)… vào thời điểm đối thủ suy yếu về tài chính.
Khả năng Sacombank bị thâu tóm bởi một nhóm NĐT của một ngân hàng bé hơn, dù dễ được liên tưởng nhưng thực tế khó xảy ra nhất. Đơn giản, Sacombank là một trong những ngân hàng TMCP lớn nhất hiện nay. 
Việc "thâu tóm thù địch" vấp phải vô số trở ngại trong quá trình tái cấu trúc, khiến hiệu quả không xứng với công sức bên mua. Trong trường hợp ngược lại, nếu kịch bản này xảy ra thì chắc chắn đây là câu chuyện "hot" nhất về các công ty niêm yết khi TTCK Việt Nam bước sang tuổi 12.

Tuesday, July 19, 2011

Thông tư 74 - hướng dẫn về giao dịch

Thông tư 74 cũng cấm NĐT thực hiện giao dịch mà không dẫn đến việc thay đổi quyền sở hữu CK. Điều này đã vô hiệu hóa việc NĐTlướt sóng, làm giá CP.
Sau nhiều thông tin rào đón về thông tư số 74 hướng dẫn về giao dịch CK, UBCK cuối tuần qua đã công bố toàn văn nội dung văn bản này.
Thông tư sẽ có hiệu lực từ 1.8 cùng với nhiều nội dung mới đáng chú ý là cho phép mở nhiều tài khoản, cho phép thực hiện giao dịch ký quỹ và được mua bán cùng một CP trong cùng phiên. Tuy nhiên, để thực hiện các giao dịch trên, NĐT sẽ phải chịu thêm nhiều ràng buộc chặt chẽ.
Mở nhiều tài khoản: Không nhiều ý nghĩa
Theo thông tư mới, NĐT cá nhân được phép mở nhiều hơn một tài khoản. Tuy nhiên, tại mỗi CTCK NĐT chỉ được mở một tài khoản. Nếu NĐT mở nhiều tài khoản giao dịch tại các CTCK khác nhau thì hồ sơ mở tài khoản tại CTCK mới phải ghi rõ số lượng tài khoản đã mở, mã số tài khoản tại các CTCK trước. 
Ngoài ra, NĐT cũng được mở thêm một tài khoản giao dịch ký quỹ. Hai loại tài khoản thường và tài khoản ký quỹ sẽ được CTCK quản lý tách biệt nhau để báo cáo theo chế độ.
Ngoài các quy định chặt chẽ về thủ tục mở nhiều tài khoản, thông tư cũng quy định, nếu mở nhiều tài khoản tại nhiều CTCK, NĐT phải báo cáo nghĩa vụ cổ đông lớn trên tổng số CK tại các tài khoản và công bố thông tin theo quy định của pháp luật. Như vậy, theo quy định mới, một NĐT cá nhân có thể đăng ký hai tài khoản tại một CTCK là một tài khoản thông thường và một tài khoản ký quỹ. Việc mở nhiều tài khoản chỉ có ý nghĩa mang lại sự lựa chọn dịch vụ tại các CTCK khác nhau.
Mua bán cùng phiên: Một – một – một
Thông tư 74 quy định, việc mua - bán một loại CK trong cùng phiên chỉ được thực hiện trong một tài khoản tại một CTCK. Điều này có nghĩa là NĐT không được cùng mua – cùng bán một loại CK tại hai tài khoản khác nhau. 
Nói cách khác, NĐT không được đặt mua CP ABC bằng tài khoản mở tại CTCK X, đồng thời đặt bán CP ABC tại CTCK Y trong cùng một phiên giao dịch.
Thêm vào đó, NĐT cũng chỉ được mua (hoặc bán) một loại CK nếu lệnh bán (hoặc lệnh mua) của CK trên đã được thực hiện trước đó. Có thể hiểu là, NĐT chỉ được mua CP ABC nếu lệnh bán CP ABC đã được khớp trước đó (và ngược lại).
“Điều này không phải là cho phép giao dịch “day-trading” - T+0 như cách hiểu của nhiều người” - ông Nguyễn Sơn - Trưởng ban Phát triển thị trường (UBCK) lý giải. 
Về bản chất, chu kỳ thanh toán T+4 vẫn được giữ nguyên như hiện nay. Và thông tư mới cũng không cho phép vay hay mượn CK. Do đó, theo một số ý kiến thì việc cho phép mua – bán CP trong cùng phiên như trên sẽ góp phần làm tăng thanh khoản cho thị trường nhưng sẽ không tạo ra đột biến.
Thông tư 74 cũng cấm NĐT thực hiện giao dịch mà không dẫn đến việc thay đổi quyền sở hữu CK. Điều này đã vô hiệu hóa việc NĐT “hai tay hai súng”, lướt sóng, làm giá CP như từ trước tới nay. Như vậy, với mong muốn được mở hơn một tài khoản để mua – bán cùng phiên giữa các tài khoản này của NĐT coi như bị bác bỏ.
Ký quỹ: Chờ tỉ lệ và danh mục CK
Nội dung quan trọng nhận được nhiều sự chú ý trong thông tư mới là chính thức cho phép thực hiện nghiệp vụ ký quỹ. Từ lâu nghiệp vụ này đã được thị trường triển khai, tỉ lệ cũng như danh mục CK thực hiện đều theo quy định của từng CTCK. Tuy nhiên, theo thông tư 74, nghiệp vụ ký quỹ, tỉ lệ ký quỹ cũng như danh mục CK đủ tiêu chuẩn để thực hiện sẽ do UBCK nghiên cứu xây dựng và hướng dẫn thực hiện.
Theo ông Nguyễn Sơn, sau khi thông tư 74 được ban hành, UBCK tiến hành xây dựng các văn bản hướng dẫn các nội dung trên. Các văn bản này sẽ được công bố khi UBCN hoàn tất. Trong trường hợp cần thiết, để đảm bảo an toàn cho hoạt động của TTCK, UBCK có thể yêu cầu các CTCK tạm ngừng giao dịch ký quỹ.
Như vậy, khi thông tư 74 có hiệu lực, hai quy định là mua bán CP trong cùng phiên và mở nhiều tài khoản sẽ được triển khai từ ngày 1.8 tới đây, còn quy định về ký quỹ sẽ phải đợi cho tới khi UBCK nghiên cứu, hướng dẫn thực hiện. Cũng theo ông Nguyễn Sơn, trước khi triển khai áp dụng thông tư mới này, các CTCK sẽ phải chỉnh sửa lại phần mềm và kết hợp với các sở GDCK và Trung tâm Lưu ký CK chạy thử nghiệm.
Quy định chặt việc uỷ quyền cá nhân
NĐT cá nhân được ủy quyền giao dịch bằng văn bản cho CTCK hoặc NH Lưu ký CK. Nếu ủy quyền cho cá nhân thì NDDT phải đáp ứng khá nhiều điều kiện chặt chặt chẽ: 1- Văn bản ủy quyền phải có xác nhận của chính quyền địa phương hoặc công chứng. 2- Hợp đồng ủy quyền phải nêu rõ phạm vi ủy quyền. 3- Người được ủy quyền không được thực hiện các giao dịch với chính mình hoặc với người thứ ba mà mình là người được ủy quyền. 4- Nhân viên CTCK không được phép nhận ủy quyền của NĐT. Như vậy, với việc ủy quyền hiện nay theo các chuẩn của các CTCK sẽ phải làm lại theo chuẩn mới. Và việc sử dụng tài khoản ủy quyền để giao dịch lướt sóng trong ngày coi như vô hiệu.