Thursday, June 2, 2011

Lợi ích của cổ đông thiểu số là gì và cách thức ghi nhận trong báo cáo tài chính doanh nghiệp hợp nhất

 HỎI: Tôi nhận thấy trong các báo cáo tài chính doanh nghiệp niêm yết có khoản mục “Lợi ích của cổ đông thiểu số”. Xin cho biết lợi ích của cổ đông thiểu số là gì và cách thức ghi nhận trong báo cáo tài chính doanh nghiệp hợp nhất như thế nào?
             
ĐÁP: Về cơ bản, có thể hiểu lợi ích của cổ đông thiểu số (minority interest)là một khoản mục nằm trong Báo cáo tài chính hợp nhất của công ty mẹ (gồm một hoặc nhiều công ty con) nhằm phản ánh phần tài sản hoặc thu nhập của công ty con. Điều này cũng phù hợp với thông lệ kế toán quốc tế để đảm bảo phân biệt rõ lợi ích của các cổ đông thiểu số tại công ty con trong tổng thể lợi ích chung của cả nhóm công ty, bao gồm công ty mẹ, khi hợp nhất báo cáo tài chính.
 
             Theo định nghĩa tại Chuẩn mức kế toán Việt Nam số 25 (Báo cáo tài chính hợp nhất và kế toán khoản đầu tư vào công ty con), thì “lợi ích của cổ đông thiểu số là một phần thuộc kết quả hoạt động thuần và giá trị tài sản thuần của một công ty con được xác định tương ứng cho các phần lợi ích không phải do công ty mẹ sở hữu một cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các công ty con”.
 
              Về hình thức, lợi ích của cổ đông thiểu số được trình bày rõ trong Bảng cân đối kế toán hợp nhất và Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh hợp nhất. 

Trong Bảng cân đối kế toán hợp nhất, lợi ích cổ đông thiểu số phải được trình bày thành chỉ tiêu tách biệt với nợ phải trả và vốn chủ sở hữu của công ty mẹ. Phần sở hữu của cổ đông thiểu số trong thu nhập của tập đoàn cũng cần được trình bày thành chỉ tiêu riêng biệt.
 
              Lợi ích của cổ đông thiểu số trong tài sản thuần bao gồm 2 dạng:
 
              - Giá trị các tài sản thể hiện cổ đông thiểu số tại ngày hợp nhất kinh doanh ban đầu được xác định phù hợp với Chuẩn mực kế toán Việt Nam “Hợp nhất kinh doanh”. Tức là các tài sản thể hiện lợi ích của cổ đông thiểu số tại công ty con được hình thành từ trước tính tới thời điểm công ty mẹ tiến hành mua lại hoặc sáp nhập với một công ty con (hoặc nắm quyền kiểm soát công ty con này dưới hình thức gián tiếp, thông qua một công ty con trung gian khác).
 
              - Phần tài sản thể hiện lợi ích của cổ đông thiểu số trong sự biến động của tổng vốn chủ sở hữu kể từ ngày hợp nhất kinh doanh. Phần tài sản thể hiện lợi ích của cổ đông thiểu số được xác định tại thời điểm lập báo cáo tài chính hợp nhất của công ty mẹ thể hiện thời gian hoạt động sau thời điểm kết thúc quá trình đầu tư của công ty mẹ vào công ty con. Khi đó, các biến động của tài sản thuần và nguồn vốn chủ sở hữu trong thời gian hoạt động của công ty con sẽ được tính toán lại và phân bổ lại vào khoản mục "Lợi ích của cổ đông thiểu số" trên báo cáo tài chính hợp nhất của công ty mẹ

Phương pháp định giá cổ phiếu dựa trên hệ số P/E

Định giá cổ phiếu dựa trên hệ số P/E (Price per Earnings) là phương pháp phân tích cơ bản thuộc nhóm phương pháp dựa vào các hệ số. Đây là phương pháp đơn giản để định giá cổ phiếu vì không cần nhiều thời gian phân tích số liệu.
 
          Công thức định giá: P = EPS x P/E
 
          Trong đó, P (Price) là giá cổ phiếu, EPS (Earnings per Share) là lãi cơ bản trên cổ phiếu và P/E là hệ số giá/thu nhập của ngành mà doanh nghiệp đang hoạt động.
 
          Về lý thuyết, có thể áp dụng P/E bình quân toàn ngành mà doanh nghiệp tham gia hoặc lựa chọn một doanh nghiệp có cổ phiếu được giao dịch rộng rãi có cùng tỷ lệ lợi nhuận, độ rủi ro và mức tăng trưởng tương tự như cổ phiếu cần định giá.
          
           P/E bình quân ngành có thể được tính theo công thức sau:

 
           Định giá theo phương pháp P/E có ưu điểm là có thể dùng để định giá cổ phiếu trong nhiều trường hợp như sáp nhập, mua lại, phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng, hoặc thậm chí định giá các cổ phiếu chưa được giao dịch. Tuy nhiên, phương pháp này cũng có nhược điểm. Do thu nhập (Earnings) là những số liệu kế toán cơ bản nên nếu trong ngành, các doanh nghiệp không áp dụng các nguyên tắc kế toán giống nhau thì cũng không nên sử dụng phương pháp này để định giá cổ phiếu.
            Thông thường, khi định giá cổ phiếu bằng phương pháp P/E thì các nhà đầu tư thường quan tâm thêm tới 3 hệ số nữa là giá trên giá trị sổ sách (P/BV), giá trên dòng tiền (P/Cash Flow) và giá trên doanh thu bán hàng (P/Sales). Đồng thời, khi định giá cổ phiếu, bạn nên tham khảo thêm các phương pháp khác như phương pháp chiết khấu luồng cổ tức, chiết khấu luồng tiền, để đưa ra được quyết định đầu tư đúng đắn nhất

Tìm hiểu về giao dịch repo.

Hiện nay, trên TTCK Việt Nam, có nhiều Cty CK đã thực hiện loại hình giao dịch repo với nhà đầu tư. Về bản chất, Đây là giao dịch cho vay tiền thông qua hợp đồng mua bán kỳ hạn cổ phiếu với những điểm chung như sau:
 
         - Hai bên hợp đồng là nhà đầu tư và Cty CK. Nhà đầu tư ký hợp đồng mua bán có kỳ hạn với một CtyCK với điều khoản bán cổ phiếu cho Cty CK theo giá thỏa thuận, thông thường từ 30-65% so với giá thị trường của cổ phiếu.
         - Khi đến hạn, nhà đầu tư mua lại số cổ phiếu này với bằng với giá đã bán cộng với một khoản phí gọi là “lãi suất repo” tính trên tổng giá trị khoản mua bán và thông thường tương đương với lãi suất cho vay của ngân hàng (có công ty tính với một cách khác là giá mua lại với giá cao hơn giá bán ban đầu; và chênh lệch giữa hai giá này được coi là lãi suất repo).
         - Trường hợp giá cổ phiếu giảm quá đến một tỷ lệ nào đó (thông lệ 20%), Cty CK có quyền nắm giữ và bán cổ phiếu (thanh lý) để thu hồi vốn. Nếu giá bán thấp hơn giá đã mua thì nhà đầu tư phải nộp bù cho Cty CK; ngược lại, nếu giá bán cao hơn giá của công ty đã mua của nhà đầu tư theo hợp đồng trước đó thì khoản chênh lệch này được trả lại cho nhà đầu tư.
         - Mọi quyền lợi liên quan đến cổ phiếu trong thời hạn hợp đồng vẫn thuộc về nhà đầu tư (cổ tức nếu nhận được sẽ được CtyCK khấu trừ khi nhà đầu tư thực hiện mua lại).
 
        Như vậy, giao dịch “repo” ở Việt Nam gần với hình thức giao dịch Bán/Mua lại cổ phiếu và đa số “repo” ở Việt Nam không có sự khác nhau giữa giá bán ban đầu và giá mua lại cổ phiếu. Xét về mặt lãi suất trong loại giao dịch “repo” này, nhà đầu tư chỉ có thể vay tiền với mức lãi suất tương đương lãi suất ngân hàng; đồng thời có thể đáp ứng nhu cầu vốn mà không cần phải bán đi chứng khoán. Một điểm lưu ý khác nữa là so với thông lệ quốc tế, công cụ chứng khoán cơ sở ở đây là cổ phiếu, khác với trái phiếu trong một giao dịch repo điển hình ở các nước khác.

Cổ phiếu quỹ (CPQ) là gì?

Theo quy định của pháp luật chứng khoán Việt Nam cũng như thông lệ quốc tế, cổ phiếu quỹ là cổ phiếu đã được công ty cổ phần đại chúng phát hành và được chính công ty phát hành đó mua lại bằng nguồn vốn hợp pháp. 
          Như vậy, CPQ hình thành khi công ty đại chúng thực hiện mua lại từ khối lượng cổ phiếu đang lưu hành trên thị trường; và CPQ không có nghĩa là những cổ phiếu phát hành không thành công.
            CPQ có một số đặc điểm khác với cổ phiếu phổ thông như sau: Không được trả cổ tức; không có quyền biểu quyết và quyền mua cổ phiếu mới; Tổng số CPQ không được phép vượt quá tỷ lệ vốn hóa mà luật pháp quy định.
             Do thực hiện mua CPQ từ nguồn vốn hợp pháp nên việc công ty mua cổ phiếu đang lưu hành sẽ làm giảm nguồn vốn chủ sở hữu hay giá trị sổ sách của công ty một lượng bằng giá trị cổ phiếu công ty đã mua vào. Khi công ty bán ra số CPQ đó, giá trị sổ sách của công ty sẽ tăng lên một lượng bằng giá trị cổ phiếu công ty bán ra. Chênh lệch giữa hai khoản đó được ghi vào thặng dư vốn cổ phần của công ty.
             Thực tế cho thấy công ty đại chúng thường mua lại cổ phiếu mình đã phát hành trong các trường hợp sau:
             - Giá cổ phiếu của công ty thấp, công ty quyết định mua lại một lượng cổ phiếu của chính công ty để kích cầu tăng giá. Việc tổ chức phát hành mua cổ phiếu của chính công ty có thể tác động tới thị trường, làm cho tình hình giao dịch cổ phiếu của công ty sôi động hơn và hạn chế tốc độ giảm giá của cổ phiếu, thậm trí, còn giúp cổ phiếu tăng giá trở lại.
             - Công ty mua lại cổ phiếu đã phát hành sẽ làm cho lượng cổ phiếu đang lưu hành giảm, dẫn tới thu nhập trên mỗi cổ phiếu (EPS) tăng.
             - Công ty kỳ vọng giá cổ phiếu của công ty sẽ tăng trong tương lai nên mua lại cổ phiếu của chính công ty như một cơ hội đầu tư.
             - Công ty mua lại cổ phiếu của công ty để thưởng cho nhân viên…

Khác biệt giữa VN Index và HASTC-Index

Chỉ số VN Index thể hiện mức giá bình quân của các cổ phiếu giao dịch tại SGDCK Tp.HCM. Cũng giống như chỉ số HASTC-Index, chỉ số Vn - Index thể hiện giá bình quân của cổ phiếu hàng ngày so với phiên giao dịch gần nhất hoặc so với ngày gốc và cũng được tính theo điểm.
 
            Nguyên tắc tính toán cụ thể của cả hai chỉ số này như sau:
 
                            Tổng giá trị thị trường hiện tại
Index     =     ---------------------------------------------------   x 100
                            Tổng giá trị thị trường gốc
hoặc:
 
                     ∑ Pit x Qit
Index     = -----------------------  x 100
                     ∑ Pio x Qit
Trong đó:
  
     Pit: Giá thực hiện của cổ phiếu i vào thời điểm tính toán
  
     Qit: Khối lượng niêm yết của cổ phiếu i vào thời điểm tính toán
 
      Pio: Giá thị trường của cổ phiếu i vào ngày gốc
          
       i     : 1,……, n
 
       Về phương pháp tính toán, chỉ số VN-Index sử dụng phương pháp bình quân gia quyền tương tự như chỉ số HASTC-Index với quyền số là khối lượng chứng khoán thời kỳ tính toán hiện tại (Qit). Cụ thể, Vn-Index so sánh giá trị thị trường hiện hành với giá trị thị trường thời kỳ gốc là phiên giao dịch đầu tiên 28/07/2000.
 
        Tuy nhiên, chỉ số này có một điểm khác biệt so với chỉ số HASTC-Index về việc sử dụng giá giao dịch của cổ phiếu trong tính toán (Pi). Pi trong trường hợp này là giá khớp lệnh của chứng khoán i tương ứng, tức là mức giá đạt được khối lượng giao dịch lớn nhất trên thị trường và làm cơ sở cho thanh toán mua/bán thành công trong phiên giao dịch. 
Với ý nghĩa là giá khớp lệnh, Pi vì vậy sẽ là mức giá duy nhất của cổ phiếu i trong phiên giao dịch được sử dụng để tính toán chỉ số VN-Index (khác với chỉ số HASTC-Index trong đó Pi là các mức giá thực hiện khác nhau tại nhiều thời điểm). SGD chứng khoán Tp HCM áp dụng các hình thức khớp lệnh giá mở cửa, giá phiên khớp lệnh liên tục và giá đóng cửa nên chỉ số Vn-Index sẽ được hiển thị theo 3 đợt, với Pi là giá khớp lệnh dùng để tính chỉ số Vn-Index cho phiên 1 và phiên 3 (khớp lệnh định kỳ xác định giá mở cửa và đóng cửa), và Pi là giá thực hiện tại nhiều thời điểm trong suốt phiên 2 là khớp lệnh liên tục từ 9h-10h.

MBS (Mortgage Backed Securities) và khủng hoảng tài chính 2008

MBS là chữ viết tắt của các từ Mortgage Backed Securities, là một loại chứng khoán có đảm bảo bằng tài sản thế chấp.

Để hiểu rõ về công cụ MSB trước hết bạn cần hiểu về công cụ Hợp đồng cho vay có thế chấp, hoặc thế chấp (mortgage), là cơ sở hình thành nên công cụ MBS trong hoạt động chứng khoán.
         Hợp đồng cho vay có thế chấp được coi là một công cụ nợ, là một khoản cho vay được đảm bảo bằng một loại tài sản cụ thể, thông thường là bất động sản. Nếu người đi vay không thanh toán được các khoản vay theo hợp đồng thì người cho vay được quyền nắm giữ tài sản thế chấp và bán đi để trang trải khoản cho vay. Khi người vay thanh toán hết các khoản nợ đúng hạn, khoản thế chấp này sẽ được dỡ bỏ.
         Trên cơ sở đó, chứng khoán có đảm bảo bằng thế chấp là một loại chứng khoán phái sinh có tài sản, công cụ cơ sở là các khoản thế chấp nêu trên thông qua quá trình chứng khoán hóa (Chứng khoán hóa theo nghĩa này là việc gộp lại các hợp đồng cho vay thế chấp có cùng tính chất và bán ra một loại chứng khoán mới, đại diện cho các quyền đối với tài sản hoặc đối với những dòng tiền phát sinh từ các khoản thế chấp trong tập hợp đó).
          Thông qua việc chứng khoán hóa như vậy, các hợp đồng cho vay đã trở thành công cụ được giao dịch rộng rãi và có tính thanh khoản, khác hẳn với tính chất trước đó. Điểm đáng chú ý ở đây là, các MBS từ đây có thể được giao dịch và chuyển giao không cần sự tham gia của bên thứ ba ngoài hai bên mua và bán. Các quyền đối với khoản cho vay đã được chuyển từ người này sang người khác chỉ cần sự thỏa thuận của bên mua và bán mà không cần sự có mặt của người đi vay.
          Tuy nhiên, đầu tư vào MBS cũng ẩn chứa rất nhiều rủi ro vì đằng sau nó là rủi ro vỡ nợ của người đi vay. Một chỉ tiêu quan trọng đo lường vấn đề này là hệ số vốn vay trên giá thị trường của tài sản bất động sản (LTV). Nếu hệ số này cao thì rủi ro vỡ nợ càng cao. Ví dụ, nếu hợp đồng cho vay chưa đáo hạn mà giá nhà đất sụt giảm mạnh thì rủi ro vỡ nợ càng dễ trở thành hiện thực. Trong trường hợp vỡ nợ xảy ra, bên cho vay không nhận được bất kỳ khoản tiền lãi nào mà còn mất chi phí, cơ hội đầu tư và các tài sản khác cũng như các chi phí liên quan đến pháp lý.
          Đây cũng chính là trường hợp xảy ra đối với cuộc khủng hoảng tài chính tại Mỹ vừa qua. Các MBS đã được giao dịch và chuyển giao qua rất nhiều vòng, tạo nên giá trị ảo vượt xa giá trị thị trường của các tài sản cơ sở (nhà đất và bất động sản) vốn đã lâm vào tình trạng giá cả sụt giảm và mất khả năng thanh khoản. Hơn nữa, bản thân các MBS này cũng được bảo hiểm bởi các hợp đồng hoán đổi rủi ro vỡ nợ (Credit Default Swap - CDS) với các công ty bảo hiểm. Hậu quả là khi khủng hoảng nổ ra, hàng loạt các tổ chức tín dụng và bảo hiểm cùng chịu rủi ro vỡ nợ theo dây chuyền và nhiều công ty buộc phải phá sản

Mô hình Dupont trong phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp

Mô hình Dupont là kỹ thuật được sử dụng để phân tích khả năng sinh lời của một doanh nghiệp bằng các công cụ quản lý hiệu quả truyền thống. Mô hình Dupont tích hợp nhiều yếu tố của báo cáo thu nhập với bản cân đối kế toán. Trong phân tích tài chính, người ta vận dụng mô hình Dupont để phân tích mối liên hệ giữa các chỉ tiêu tài chính. Chính nhờ sự phân tích mối liên kết giữa các chỉ tiêu tài chính, chúng ta có thể phát hiện ra những nhân tố đã ảnh hưởng đến chỉ tiêu phân tích theo một trình tự nhất định.
 
            Dưới góc độ nhà đầu tư cổ phiếu, một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất là hệ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE). Do vốn chủ sở hữu là một phần của tổng nguồn vốn hình thành nên tài sản, nên ROE sẽ phụ thuộc vào hệ số lợi nhuận trên tổng tài sản. Mối quan hệ này được thể hiện bằng mô hình Dupont như sau:


                             Hay, ROE = ROA x Đòn bẩy tài chính
 
              Vì vậy, mô hình Dupont có thể tiếp tục được triển khai chi tiết thành:

 
         Hay, ROE = Hệ số Lợi nhuận ròng x Hiệu suất sử dụng tổng tài sản x Đòn bẩy tài chính
 
              Trên cơ sở nhận biết ba nhân tố trên, doanh nghiệp có thể áp dụng một số biện pháp làm tăng ROE như sau:
 
             - Tác động tới cơ cấu tài chính của doanh nghiệp thông qua điều chỉnh tỷ lệ nợ vay và tỷ lệ vốn chủ sở hữu cho phù hợp với năng lực hoạt động.
 
             - Tăng hiệu suất sử dụng tài sản. Nâng cao số vòng quay của tài sản, thông qua việc vừa tăng quy mô về doanh thu thuần, vừa sử dụng tiết kiệm và hợp lý về cơ cấu của tổng tài sản.
 
              - Tăng doanh thu, giảm chi phí, nâng cao chất lượng của sản phẩm. Từ đó tăng lợi nhuận của doanh nghiệp.
 
            Tóm lại, phân tích báo cáo tài chính bằng mô hình Dupont có ý nghĩa lớn đối với quản trị DN thể hiện ở chỗ có thể đánh giá đầy đủ và khách quan các nhân tố tác động đến hiêu quả sản xuất kinh doanh từ đó tiến hành công tác cải tiến tổ chức quản lý của doanh nghiệp.