Tuesday, December 30, 2008
Saturday, December 27, 2008
8 ngày lịch sử của TTCK Mỹ năm 2008
TTCK Mỹ năm 2008 lập kỷ lục về những mức đáy mới, những lần suy giảm chưa từng có trong lịch sử.
TTCK Mỹ biến động mạnh trong năm 2008 bởi nhà đầu tư dõi theo thông tin về kế hoạch giải cứu, những vụ phá sản, khủng hoảng tín dụng và suy thoái kéo dài.
1. Ngày 29/09/2008: Chỉ số công nghiệp Dow Jones mất điểm chưa từng có
Chỉ số công nghiệp Dow Jones hạ 777,68 điểm tương đương 6,98%
Năm 2008 là năm tệ hại nhất của chỉ số công nghiệp Dow Jones từ năm 1931.
Ngày 02/10/2008, chỉ số công nghiệp Dow Jones bắt đầu phiên giao dịch ở mức 13.261 diểm, tuy nhiên đã hai lần chỉ số này rơi xuống dưới mức 8.000 điểm và hiện đứng ở mức 8.500 điểm.
Ngày 29/09/2008 là ngày tệ hại nhất của TTCK năm nay. Chỉ số công nghiệp Dow Jones hạ gần 800 điểm, mức giảm điểm trong ngày lớn chưa từng có do Hạ Viện Mỹ từ chối kế hoạch 700 tỷ USD cứu ngành tài chính.
2. Ngày 15/10/2008: Mức hạ tính theo % lớn nhất từ năm 1987
Diễn biến chỉ số công nghiệp Dow Jones từ ngày 02/01/2008 đến hết ngày 22/12/2008
Chỉ số công nghiệp Dow Jones đóng cửa ở mức 8.577,91 điểm. Mức hạ 733,08 điểm tương đương 7,87%.
Đến thời điểm này, chỉ số công nghiệp Dow Jones hạ gần 35% và chỉ riêng trong một ngày giao dịch ngày 15/10, chỉ số này hạ tới 7,87%.
Mức hạ này đứng thứ 9 trong số những lần hạ nhiều nhất của chỉ số công nghiệp Dow Jones và là mức hạ sâu nhất từ tháng 10/1987.
Nguyên nhân chính khiến thị trường hạ trong ngày này là một loạt thông tin kinh tế tiêu cực, trong đó có báo cáo cho thấy doanh số bán lẻ hạ nhiều nhất trong 3 năm.
Nguyên nhân khác khiến thị trường hạ là tuyên bố của chủ tịch FED cho rằng kinh tế Mỹ còn lâu mới hồi phục, kể cả khi thị trường tín dụng đã trở lại trạng thái bình thường.
3. Ngày 05 - 06/11/2008: Thượng Nghị Sỹ Obama trở thành Tổng thống Mỹ thứ 44, chỉ số công nghiệp Dow Jones hạ mạnh.
Chỉ số công nghiệp Dow Jones đóng cửa ở mức 8.695,79 điểm, mức hạ 929,49 điểm, tỷ lệ thay đổi - 9,66%.
Hàng triệu nhà đầu tư trên TTCK Mỹ chào đón việc Thượng Nghị Sỹ Obama trở thành Tổng thống Mỹ. Tuy nhiên sau đó họ nhanh chóng tập trung vào nền kinh tế đang yếu kém, chỉ số chính của thị trường sụt giảm liền hai ngày sau cuộc bầu cử.
Ngày 05/11/2008, nhà đầu tư nhận thông tin giới chủ Mỹ cắt giảm nhân công mạnh.
Tin tức u ám về thị trường việc làm tiếp tục được công bố trong ngày 06/11/2008. Cụ thể số lượng người đăng ký thất nghiệp lần đầu tăng cao hơn dự kiến và nhảy vọt lên mức cao nhất trong 25 năm.
Bộ Lao Động Mỹ thời điểm đó công bố nước Mỹ đã mất tới 1,2 triệu việc làm trong năm 2008.
4. Ngày 01/12/2008: Kinh tế Mỹ suy thoái
Chỉ số công nghiệp Dow Jones đóng cửa ở mức 8.149,09 điểm, mức hạ 679,95 điểm tương đương 7,7%.
Cơ quan nghiên cứu kinh tế quốc gia Mỹ (National Bureau of Economic Research) thông báo kinh tế Mỹ đã suy thoái. Cơ quan này còn cho rằng trên thực tế kinh tế Mỹ đã suy thoái từ tháng 12/2007.
Thị trường chứng khoán ngay lập tức mất điểm dù thông tin trên không có gì đáng ngạc nhiên. Tuy nhiên nhiều chuyên gia kinh tế dự đoán tình trạng suy thoái của kinh tế Mỹ sẽ kéo dài sang năm 2009, đây sẽ là khoảng thời gian suy thoái dài nhất và sâu nhất trong lịch sử.
Doanh số của ngày Black Friday không thay đổi được dự báo u ám về doanh số bán lẻ của các chuyên gia và nhà đầu tư.
Nhà đầu tư ồ ạt bán tháo cổ phiếu.
Phiên giao dịch ngày 20/11/2008, đã có lúc chỉ số công nghiệp Dow Jones hạ xuống gần mức 7.500 điểm.
5. Ngày 09/10/2008: Thị trường biến động mạnh vì Bộ Tài Chính Mỹ
Chỉ số công nghiệp Dow Jones đóng cửa ở mức 8579,19 điểm, mức hạ 678,91 điểm tương đương 7,33%.
Chỉ số công nghiệp Dow Jones hạ 2.400 điểm tương đương 22% trong 8 phiên từ ngày 01/10/2008 cho đến ngày 10/10/2008 – mức hạ chưa từng có từ năm 1930.
Ngày 09/10/2008 là ngày chỉ số này hạ mạnh nhất trong chuỗi ngày trên. Nhà đầu tư lo ngại về rủi ro lớn hơn của hệ thống tài chính sau khi Bộ Tài Chính Mỹ công bố nắm cổ phần của các ngân hàng.
Việc này được thông báo chỉ một tuần sau khi Quốc hội thông qua kế hoạch 700 tỷ USD để mua lại tài sản xấu tại các ngân hàng. Dù Bộ Tài Chính không loại bỏ việc mua tài sản xấu ra khỏi kế hoạch, nhưng lại chuyển trọng tâm sang mua cổ phần. Thị trường đầy bất ngờ với điểm mới của kế hoạch.
Chỉ số Chicago Board Options Exchange volatility, chỉ số đo sự sợ hãi của nhà đầu tư, tăng lên mức 64 điểm vào ngày 09/10, đây là lần đầu tiên chỉ số này tăng lên hơn mức 60 điểm. Vào thời điểm cuối tháng đó, chỉ số này tăng lên mức gần 90 và vài tháng sau đó hạ xuống dưới mức 50 bởi chính phủ áp dụng nhiều biện pháp cứu thị trường.
6. Ngày 15/09/2008: Ngân hàng Lehman Brothers sụp đổ, khủng hoảng tín dụng bắt đầu
Chỉ số công nghiệp Dow Jones đóng cửa ở mức 10.917,51 điểm, mức hạ 504,48 điểm tương đương 4,42%.
Thông tin ngân hàng Lehman Brothers sụp đổ nhấn chìm thị trường, nhà đầu tư ồ ạt bán tháo cổ phiếu. Ngân hàng 158 năm tuổi này buộc phải ra đi sau những nỗ lực ứng cứu bất thành.
Thị trường tiếp tục giảm sâu sau khi thông tin cho thấy tập đoàn bảo hiểm lớn nhất thế giới – AIG đang tìm mọi cách để được hỗ trợ . Cuối tuần, chính phủ Mỹ dùng 85 tỷ USD để cứu AIG.
Thông tin khác không kém phần tiêu cực là ngân hàng tiết kiệm lớn nhất của Mỹ - Washington Mutual đang tìm mọi cách để vượt qua khó khăn. Một tháng sau, ngân hàng này sụp đổ, vụ sụp đổ ngân hàng lớn chưa từng có trong lịch sử.
Ngày 15/09 trở thành ngày đánh dấu thời kỳ mở đầu của khủng hoảng tín dụng, việc cho vay đóng băng. Những gì diễn ra buộc FED, Tập đoản bảo hiểm tiền gửi (FDIC), Bộ Tài Chính Mỹ và các nhà hoạch định chính sách kinh tế phải dành hàng nghìn tỷ USD cho các chương trình giải cứu.
7. Ngày 06/06/2008: giá dầu, tỷ lệ thất nghiệp tăng vọt
Diễn biến giá dầu thô từ ngày 02/01/2008 đến hết ngày 23/12/2008
Chỉ số công nghiệp Dow Jones đóng cửa ở mức 12.209,81 điểm, mức hạ 394,64 điểm tương đương 3,13%.
Đây là ngày tệ hại nhất của TTCK Mỹ trước khi khủng hoảng tín dụng thật sự tác động đến thị trường, nhà đầu tư ồ ạt bán tháo cổ phiếu khi giá dầu leo dốc quá nhanh.
Lúc đó giá dầu tăng lên mức 138,54USD/thùng, mức tăng 16USD chỉ trong 2 phiên. Giá dầu thô tăng do Morgan Stanley dự báo giá dầu có thể đạt mức 150USD/thùng vào ngày 04/07/2008.
Trên thực tế, mọi chuyện gần đúng như vậy, giá dầu đạt kỷ lục 147,27 USD/thùng vào ngày 11/07/2008.
Nguyên nhân khác khiến thị trường mất điểm là tiêu dùng của người dân đi xuống khi giá xăng tại Mỹ tăng quá cao. Hậu quả là nhu cầu năng lượng đi xuống và giá dầu sau đó bắt đầu trượt dốc vào cuối mùa hè năm 2008.
Nguyên nhân khác khiến thị trường mất điểm là Bộ Lao Động Mỹ thông báo tỷ lệ thất nghiệp lên mức 5,5% từ mức 5%. Đây là mức tăng tháng lớn nhất của tỷ lệ thất nghiệp trong suốt 20 năm.
Thông báo của Bộ Lao Động Mỹ khiến nhà đầu tư nghĩ đến khả năng kinh tế Mỹ đã suy thoái bất chấp kế hoạch hoàn thuế hơn 100 tỷ USD của chính phủ.
8. Ngày 13/10/2008: TTCK Mỹ tăng điểm mạnh, chấm dứt chuỗi ngày giảm điểm hiếm thấy
Chỉ số công nghiệp Dow Jones đóng cửa ở mức 9.387,61 điểm, mức tăng 936,42 điểm tương đương 11,1%.
Chỉ số công nghiệp Dow Jones tăng 976 điểm trong ngày thứ Hai, ngày 13/10/2008. Chuỗi ngày giảm điểm kinh khủng trước đó kết thúc, chỉ số công nghiệp Dow Jones hạ 2.400 điểm tương đương 22% trong 8 phiên từ ngày 01/10/2008 cho đến ngày 10/10/2008 – mức hạ chưa từng có từ năm 1930.
Nguyên nhân khiến thị trường tăng điểm là một loạt nỗ lực mới của thế giới để giải quyết khủng hoảng tín dụng. Lý do khác là người nắm kế hoạch 700 tỷ USD của Bộ Tài Chính Mỹ thông báo một số chi tiết về kế hoạch này.
Cụ thể, kế hoạch 700 tỷ USD sẽ được dùng không chỉ mua cổ phẩn tại các ngân hàng, chứng khoán đảm bảo bằng thế chấp, mà còn là khoản vay thế chấp, bảo đảm khoản vay mua nhà và hỗ trợ cho nhiều chủ sở hữu nhà ở.
Nhà đầu tư cũng hưởng ứng quyết định bơm vốn và đảm bảo việc cho vay liên ngân hàng của 15 nước châu Âu. Chính phủ Anh thông báo bơm 63 tỷ USD vào hệ thống tài chính.
FED thông báo sẽ cung USD không hạn chế cho nhiều Ngân hàng Trung ương trên thế giới. Cụ thể có 13 Ngân hàng Trung ương được nhận hỗ trợ này.
TTCK Mỹ biến động mạnh trong năm 2008 bởi nhà đầu tư dõi theo thông tin về kế hoạch giải cứu, những vụ phá sản, khủng hoảng tín dụng và suy thoái kéo dài.
1. Ngày 29/09/2008: Chỉ số công nghiệp Dow Jones mất điểm chưa từng có
Chỉ số công nghiệp Dow Jones hạ 777,68 điểm tương đương 6,98%
Năm 2008 là năm tệ hại nhất của chỉ số công nghiệp Dow Jones từ năm 1931.
Ngày 02/10/2008, chỉ số công nghiệp Dow Jones bắt đầu phiên giao dịch ở mức 13.261 diểm, tuy nhiên đã hai lần chỉ số này rơi xuống dưới mức 8.000 điểm và hiện đứng ở mức 8.500 điểm.
Ngày 29/09/2008 là ngày tệ hại nhất của TTCK năm nay. Chỉ số công nghiệp Dow Jones hạ gần 800 điểm, mức giảm điểm trong ngày lớn chưa từng có do Hạ Viện Mỹ từ chối kế hoạch 700 tỷ USD cứu ngành tài chính.
2. Ngày 15/10/2008: Mức hạ tính theo % lớn nhất từ năm 1987
Diễn biến chỉ số công nghiệp Dow Jones từ ngày 02/01/2008 đến hết ngày 22/12/2008
Chỉ số công nghiệp Dow Jones đóng cửa ở mức 8.577,91 điểm. Mức hạ 733,08 điểm tương đương 7,87%.
Đến thời điểm này, chỉ số công nghiệp Dow Jones hạ gần 35% và chỉ riêng trong một ngày giao dịch ngày 15/10, chỉ số này hạ tới 7,87%.
Mức hạ này đứng thứ 9 trong số những lần hạ nhiều nhất của chỉ số công nghiệp Dow Jones và là mức hạ sâu nhất từ tháng 10/1987.
Nguyên nhân chính khiến thị trường hạ trong ngày này là một loạt thông tin kinh tế tiêu cực, trong đó có báo cáo cho thấy doanh số bán lẻ hạ nhiều nhất trong 3 năm.
Nguyên nhân khác khiến thị trường hạ là tuyên bố của chủ tịch FED cho rằng kinh tế Mỹ còn lâu mới hồi phục, kể cả khi thị trường tín dụng đã trở lại trạng thái bình thường.
3. Ngày 05 - 06/11/2008: Thượng Nghị Sỹ Obama trở thành Tổng thống Mỹ thứ 44, chỉ số công nghiệp Dow Jones hạ mạnh.
Chỉ số công nghiệp Dow Jones đóng cửa ở mức 8.695,79 điểm, mức hạ 929,49 điểm, tỷ lệ thay đổi - 9,66%.
Hàng triệu nhà đầu tư trên TTCK Mỹ chào đón việc Thượng Nghị Sỹ Obama trở thành Tổng thống Mỹ. Tuy nhiên sau đó họ nhanh chóng tập trung vào nền kinh tế đang yếu kém, chỉ số chính của thị trường sụt giảm liền hai ngày sau cuộc bầu cử.
Ngày 05/11/2008, nhà đầu tư nhận thông tin giới chủ Mỹ cắt giảm nhân công mạnh.
Tin tức u ám về thị trường việc làm tiếp tục được công bố trong ngày 06/11/2008. Cụ thể số lượng người đăng ký thất nghiệp lần đầu tăng cao hơn dự kiến và nhảy vọt lên mức cao nhất trong 25 năm.
Bộ Lao Động Mỹ thời điểm đó công bố nước Mỹ đã mất tới 1,2 triệu việc làm trong năm 2008.
4. Ngày 01/12/2008: Kinh tế Mỹ suy thoái
Chỉ số công nghiệp Dow Jones đóng cửa ở mức 8.149,09 điểm, mức hạ 679,95 điểm tương đương 7,7%.
Cơ quan nghiên cứu kinh tế quốc gia Mỹ (National Bureau of Economic Research) thông báo kinh tế Mỹ đã suy thoái. Cơ quan này còn cho rằng trên thực tế kinh tế Mỹ đã suy thoái từ tháng 12/2007.
Thị trường chứng khoán ngay lập tức mất điểm dù thông tin trên không có gì đáng ngạc nhiên. Tuy nhiên nhiều chuyên gia kinh tế dự đoán tình trạng suy thoái của kinh tế Mỹ sẽ kéo dài sang năm 2009, đây sẽ là khoảng thời gian suy thoái dài nhất và sâu nhất trong lịch sử.
Doanh số của ngày Black Friday không thay đổi được dự báo u ám về doanh số bán lẻ của các chuyên gia và nhà đầu tư.
Nhà đầu tư ồ ạt bán tháo cổ phiếu.
Phiên giao dịch ngày 20/11/2008, đã có lúc chỉ số công nghiệp Dow Jones hạ xuống gần mức 7.500 điểm.
5. Ngày 09/10/2008: Thị trường biến động mạnh vì Bộ Tài Chính Mỹ
Chỉ số công nghiệp Dow Jones đóng cửa ở mức 8579,19 điểm, mức hạ 678,91 điểm tương đương 7,33%.
Chỉ số công nghiệp Dow Jones hạ 2.400 điểm tương đương 22% trong 8 phiên từ ngày 01/10/2008 cho đến ngày 10/10/2008 – mức hạ chưa từng có từ năm 1930.
Ngày 09/10/2008 là ngày chỉ số này hạ mạnh nhất trong chuỗi ngày trên. Nhà đầu tư lo ngại về rủi ro lớn hơn của hệ thống tài chính sau khi Bộ Tài Chính Mỹ công bố nắm cổ phần của các ngân hàng.
Việc này được thông báo chỉ một tuần sau khi Quốc hội thông qua kế hoạch 700 tỷ USD để mua lại tài sản xấu tại các ngân hàng. Dù Bộ Tài Chính không loại bỏ việc mua tài sản xấu ra khỏi kế hoạch, nhưng lại chuyển trọng tâm sang mua cổ phần. Thị trường đầy bất ngờ với điểm mới của kế hoạch.
Chỉ số Chicago Board Options Exchange volatility, chỉ số đo sự sợ hãi của nhà đầu tư, tăng lên mức 64 điểm vào ngày 09/10, đây là lần đầu tiên chỉ số này tăng lên hơn mức 60 điểm. Vào thời điểm cuối tháng đó, chỉ số này tăng lên mức gần 90 và vài tháng sau đó hạ xuống dưới mức 50 bởi chính phủ áp dụng nhiều biện pháp cứu thị trường.
6. Ngày 15/09/2008: Ngân hàng Lehman Brothers sụp đổ, khủng hoảng tín dụng bắt đầu
Chỉ số công nghiệp Dow Jones đóng cửa ở mức 10.917,51 điểm, mức hạ 504,48 điểm tương đương 4,42%.
Thông tin ngân hàng Lehman Brothers sụp đổ nhấn chìm thị trường, nhà đầu tư ồ ạt bán tháo cổ phiếu. Ngân hàng 158 năm tuổi này buộc phải ra đi sau những nỗ lực ứng cứu bất thành.
Thị trường tiếp tục giảm sâu sau khi thông tin cho thấy tập đoàn bảo hiểm lớn nhất thế giới – AIG đang tìm mọi cách để được hỗ trợ . Cuối tuần, chính phủ Mỹ dùng 85 tỷ USD để cứu AIG.
Thông tin khác không kém phần tiêu cực là ngân hàng tiết kiệm lớn nhất của Mỹ - Washington Mutual đang tìm mọi cách để vượt qua khó khăn. Một tháng sau, ngân hàng này sụp đổ, vụ sụp đổ ngân hàng lớn chưa từng có trong lịch sử.
Ngày 15/09 trở thành ngày đánh dấu thời kỳ mở đầu của khủng hoảng tín dụng, việc cho vay đóng băng. Những gì diễn ra buộc FED, Tập đoản bảo hiểm tiền gửi (FDIC), Bộ Tài Chính Mỹ và các nhà hoạch định chính sách kinh tế phải dành hàng nghìn tỷ USD cho các chương trình giải cứu.
7. Ngày 06/06/2008: giá dầu, tỷ lệ thất nghiệp tăng vọt
Diễn biến giá dầu thô từ ngày 02/01/2008 đến hết ngày 23/12/2008
Chỉ số công nghiệp Dow Jones đóng cửa ở mức 12.209,81 điểm, mức hạ 394,64 điểm tương đương 3,13%.
Đây là ngày tệ hại nhất của TTCK Mỹ trước khi khủng hoảng tín dụng thật sự tác động đến thị trường, nhà đầu tư ồ ạt bán tháo cổ phiếu khi giá dầu leo dốc quá nhanh.
Lúc đó giá dầu tăng lên mức 138,54USD/thùng, mức tăng 16USD chỉ trong 2 phiên. Giá dầu thô tăng do Morgan Stanley dự báo giá dầu có thể đạt mức 150USD/thùng vào ngày 04/07/2008.
Trên thực tế, mọi chuyện gần đúng như vậy, giá dầu đạt kỷ lục 147,27 USD/thùng vào ngày 11/07/2008.
Nguyên nhân khác khiến thị trường mất điểm là tiêu dùng của người dân đi xuống khi giá xăng tại Mỹ tăng quá cao. Hậu quả là nhu cầu năng lượng đi xuống và giá dầu sau đó bắt đầu trượt dốc vào cuối mùa hè năm 2008.
Nguyên nhân khác khiến thị trường mất điểm là Bộ Lao Động Mỹ thông báo tỷ lệ thất nghiệp lên mức 5,5% từ mức 5%. Đây là mức tăng tháng lớn nhất của tỷ lệ thất nghiệp trong suốt 20 năm.
Thông báo của Bộ Lao Động Mỹ khiến nhà đầu tư nghĩ đến khả năng kinh tế Mỹ đã suy thoái bất chấp kế hoạch hoàn thuế hơn 100 tỷ USD của chính phủ.
8. Ngày 13/10/2008: TTCK Mỹ tăng điểm mạnh, chấm dứt chuỗi ngày giảm điểm hiếm thấy
Chỉ số công nghiệp Dow Jones đóng cửa ở mức 9.387,61 điểm, mức tăng 936,42 điểm tương đương 11,1%.
Chỉ số công nghiệp Dow Jones tăng 976 điểm trong ngày thứ Hai, ngày 13/10/2008. Chuỗi ngày giảm điểm kinh khủng trước đó kết thúc, chỉ số công nghiệp Dow Jones hạ 2.400 điểm tương đương 22% trong 8 phiên từ ngày 01/10/2008 cho đến ngày 10/10/2008 – mức hạ chưa từng có từ năm 1930.
Nguyên nhân khiến thị trường tăng điểm là một loạt nỗ lực mới của thế giới để giải quyết khủng hoảng tín dụng. Lý do khác là người nắm kế hoạch 700 tỷ USD của Bộ Tài Chính Mỹ thông báo một số chi tiết về kế hoạch này.
Cụ thể, kế hoạch 700 tỷ USD sẽ được dùng không chỉ mua cổ phẩn tại các ngân hàng, chứng khoán đảm bảo bằng thế chấp, mà còn là khoản vay thế chấp, bảo đảm khoản vay mua nhà và hỗ trợ cho nhiều chủ sở hữu nhà ở.
Nhà đầu tư cũng hưởng ứng quyết định bơm vốn và đảm bảo việc cho vay liên ngân hàng của 15 nước châu Âu. Chính phủ Anh thông báo bơm 63 tỷ USD vào hệ thống tài chính.
FED thông báo sẽ cung USD không hạn chế cho nhiều Ngân hàng Trung ương trên thế giới. Cụ thể có 13 Ngân hàng Trung ương được nhận hỗ trợ này.
Tuesday, September 23, 2008
Những giấc mơ tan theo cổ phiếu
Năm 2007, các nhà đầu tư chứng khoán Trung Quốc được đánh giá là khôn ngoan, gặt hái thành công hàng đầu. Nhưng năm nay, số nhà đầu tư chứng khoán thất bại cũng đạt kỷ lục.
Hy vọng tiêu tan, tiền bạc dành dụm mất trắng, gia đình tan vỡ, nhiều người tự tử, các nhà đầu tư nhỏ lẻ Trung Quốc mong chờ chính sách cứu nguy của chính phủ… “Các nhà đầu tư nhỏ lẻ sẽ tiếp tục rời xa thị trường chứng khoán (TTCK)”. Đó là nhận định về những người chơi cổ phiếu Trung Quốc trong năm 2008 của ông Zhang Qi, nhà phân tích chứng khoán tại Thượng Hải.
Năm 2007, hàng triệu người Trung Quốc dốc hầu bao vào chứng khoán. Theo khảo sát của ngân hàng Nhân dân Trung Quốc trên 20.000 gia đình sống ở 50 thành phố lớn, hơn 40% người dân quan tâm đầu tư vào cổ phiếu, trái phiếu và chứng chỉ quỹ hơn là gởi tiền vào ngân hàng.
Phụ nữ trung lưu và người hưu trí là những nạn nhân đáng thương khi thị trường chứng khoán Trung Quốc xuống dốc từ đầu năm 2008 đến nay. Một nhà đầu tư chứng khoán đọc thông tin trên bảng điện tử tại sàn Vũ Hán ngày 3.9.2008. (Ảnh: Reuters)
Tại Thượng Hải, hàng chục văn phòng môi giới mới ra đời, trung bình mỗi ngày có 90.000 tài khoản mua bán chứng khoán đăng ký mới. Tháng 4.2007, Trung Quốc có 96 triệu nhà đầu tư, tăng gấp ba lần so với 4.2006. Anh Vương, nhân viên một văn phòng chính phủ ở Quảng Châu cho biết 90% nhân viên phòng anh đầu tư vào chứng khoán.
Suốt thời gian nghỉ trưa, cả văn phòng chỉ nói chuyện về chứng khoán. Người ta bỏ ngày nghỉ lễ, bỏ đi du lịch để tham gia lớp tìm hiểu chứng khoán. Có những người thắng hàng triệu nhân dân tệ sau một đêm, có những bệnh nhân khỏi bệnh nhờ nghe tin giá cổ phiếu đầu tư tăng. Thậm chí sư sãi trong chùa cũng đầu tư chứng khoán để kiếm tiền làm từ thiện.
Tháng 4.2007, 21 tỉ USD tiền gởi từ ngân hàng chảy vào TTCK, và trong tháng 5 là 37 tỉ USD. Lần đầu tiên trong lịch sử, ngày 10.5.2007, vòng quay của một ngày trên sàn chứng khoán Thượng Hải đạt hơn 52 tỉ USD, qua mặt các thị trường trên thế giới. Theo ngân hàng Thế giới, giá trị TTCK Trung Quốc tăng gấp ba lần từ năm 2005 đến 6.2007.
Đợt suy thoái đầu tiên của năm 2008 bắt đầu từ phiên giao dịch ngày 27.2, khi chỉ số Shanghai và Shenzhen 300 giảm tới 250,18 điểm (9,2%). Các nhà đầu tư vội vã bán tháo cổ phiếu, trị giá lên tới 107,8 tỉ USD. Theo khảo sát của công ty cung cấp thông tin và dịch vụ tư vấn quốc tế Bắc Kinh, 92,51% nhà đầu tư chứng khoán cá nhân thua lỗ trong nửa đầu năm 2008 (trong đó hơn 60% lỗ hơn phân nửa), 4,34% có lời và 3,15% hoà vốn.
Nạn nhân của thua chứng khoán không thể kể hết. Ông Zhang Zhiqiang, 65 tuổi, cho biết, tài khoản tiết kiệm trị giá 88.000 USD của ông được đầu tư vào chứng khoán một năm trước đến nay chỉ còn giá trị một nửa. Bây giờ ông mất ăn mất ngủ và không muốn về nhà sợ phải nghe vợ la mắng vì ông thua lỗ.
Anh Wang, 36 tuổi, đổ hết 15.000 USD để dành tính mua nhà và cưới vợ vào chứng khoán, nhưng trắng tay sau sáu tháng. Tháng 2.2008, anh tự tử nhưng được cứu sống. Một kỹ sư tên Li nhảy từ tầng bảy của toà nhà văn phòng tại Thành Đô sau khi mất khoản lớn. Một chủ tiệm kem 30 tuổi tại tỉnh Sơn Đông cũng nhảy lầu sau khi lỗ 1/3 trị giá vốn đầu tư 4.500 USD của mình…
Một nhà đầu tư tại Trung Quốc mô tả trên blog của mình về thị trường chứng khoán Trung Quốc hiện nay “thấm đẫm nước mắt và máu của người đầu tư”.
Hy vọng tiêu tan, tiền bạc dành dụm mất trắng, gia đình tan vỡ, nhiều người tự tử, các nhà đầu tư nhỏ lẻ Trung Quốc mong chờ chính sách cứu nguy của chính phủ… “Các nhà đầu tư nhỏ lẻ sẽ tiếp tục rời xa thị trường chứng khoán (TTCK)”. Đó là nhận định về những người chơi cổ phiếu Trung Quốc trong năm 2008 của ông Zhang Qi, nhà phân tích chứng khoán tại Thượng Hải.
Năm 2007, hàng triệu người Trung Quốc dốc hầu bao vào chứng khoán. Theo khảo sát của ngân hàng Nhân dân Trung Quốc trên 20.000 gia đình sống ở 50 thành phố lớn, hơn 40% người dân quan tâm đầu tư vào cổ phiếu, trái phiếu và chứng chỉ quỹ hơn là gởi tiền vào ngân hàng.
Phụ nữ trung lưu và người hưu trí là những nạn nhân đáng thương khi thị trường chứng khoán Trung Quốc xuống dốc từ đầu năm 2008 đến nay. Một nhà đầu tư chứng khoán đọc thông tin trên bảng điện tử tại sàn Vũ Hán ngày 3.9.2008. (Ảnh: Reuters)
Tại Thượng Hải, hàng chục văn phòng môi giới mới ra đời, trung bình mỗi ngày có 90.000 tài khoản mua bán chứng khoán đăng ký mới. Tháng 4.2007, Trung Quốc có 96 triệu nhà đầu tư, tăng gấp ba lần so với 4.2006. Anh Vương, nhân viên một văn phòng chính phủ ở Quảng Châu cho biết 90% nhân viên phòng anh đầu tư vào chứng khoán.
Suốt thời gian nghỉ trưa, cả văn phòng chỉ nói chuyện về chứng khoán. Người ta bỏ ngày nghỉ lễ, bỏ đi du lịch để tham gia lớp tìm hiểu chứng khoán. Có những người thắng hàng triệu nhân dân tệ sau một đêm, có những bệnh nhân khỏi bệnh nhờ nghe tin giá cổ phiếu đầu tư tăng. Thậm chí sư sãi trong chùa cũng đầu tư chứng khoán để kiếm tiền làm từ thiện.
Tháng 4.2007, 21 tỉ USD tiền gởi từ ngân hàng chảy vào TTCK, và trong tháng 5 là 37 tỉ USD. Lần đầu tiên trong lịch sử, ngày 10.5.2007, vòng quay của một ngày trên sàn chứng khoán Thượng Hải đạt hơn 52 tỉ USD, qua mặt các thị trường trên thế giới. Theo ngân hàng Thế giới, giá trị TTCK Trung Quốc tăng gấp ba lần từ năm 2005 đến 6.2007.
Đợt suy thoái đầu tiên của năm 2008 bắt đầu từ phiên giao dịch ngày 27.2, khi chỉ số Shanghai và Shenzhen 300 giảm tới 250,18 điểm (9,2%). Các nhà đầu tư vội vã bán tháo cổ phiếu, trị giá lên tới 107,8 tỉ USD. Theo khảo sát của công ty cung cấp thông tin và dịch vụ tư vấn quốc tế Bắc Kinh, 92,51% nhà đầu tư chứng khoán cá nhân thua lỗ trong nửa đầu năm 2008 (trong đó hơn 60% lỗ hơn phân nửa), 4,34% có lời và 3,15% hoà vốn.
Nạn nhân của thua chứng khoán không thể kể hết. Ông Zhang Zhiqiang, 65 tuổi, cho biết, tài khoản tiết kiệm trị giá 88.000 USD của ông được đầu tư vào chứng khoán một năm trước đến nay chỉ còn giá trị một nửa. Bây giờ ông mất ăn mất ngủ và không muốn về nhà sợ phải nghe vợ la mắng vì ông thua lỗ.
Anh Wang, 36 tuổi, đổ hết 15.000 USD để dành tính mua nhà và cưới vợ vào chứng khoán, nhưng trắng tay sau sáu tháng. Tháng 2.2008, anh tự tử nhưng được cứu sống. Một kỹ sư tên Li nhảy từ tầng bảy của toà nhà văn phòng tại Thành Đô sau khi mất khoản lớn. Một chủ tiệm kem 30 tuổi tại tỉnh Sơn Đông cũng nhảy lầu sau khi lỗ 1/3 trị giá vốn đầu tư 4.500 USD của mình…
Một nhà đầu tư tại Trung Quốc mô tả trên blog của mình về thị trường chứng khoán Trung Quốc hiện nay “thấm đẫm nước mắt và máu của người đầu tư”.
Saturday, September 20, 2008
Cấp cứu Thị trường CKVN và việc cấp cứu Ngân hàng đầu tư Bear Sterns
Hôm Chủ Nhật 16, Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ bất ngờ dàn xếp việc cấp cứu Ngân hàng đầu tư Bear Sterns. Biện pháp đặc biệt ấy được dư luận khắp nơi chú ý vì tin Bear Sterns lâm khủng hoảng khiến các thị trường tuột giá mạnh và dẫn tới viễn ảnh sụp đổ hệ thống tài chính và ngân hàng của các nước.
Diễn đàn Kinh tế sẽ tìm hiểu nội vụ với những phân tích liên hệ đến việc cấp cứu thị trường chứng khoán của Việt Nam. Cuộc trao đổi sau đây với kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa sẽ do Việt Long thực hiện.
Việt Long: Thưa ông Nguyễn Xuân Nghĩa, việc hệ thống Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ tung ra giải pháp cứu vớt ngân hàng đầu tư Bear Sterns đã được dư luận cho là một biện pháp bất thường.
Trong chương trình tuần này, chúng tôi xin đề nghị là ta sẽ cùng tìm hiểu về bối cảnh, nguyên nhân và hậu quả của biện pháp cấp cứu ấy, rồi qua phần so sánh với biện pháp cấp cứu thị trường chứng khoán của Tổng công ty Quản lý vốn nhà nước SCIC do Việt Nam mới ban hành vào Thứ Năm mùng sáu vừa qua. Trước hết, về bối cảnh vấn đề, ngân hàng Bear Sterns là gì và vì sao cần cấp cứu?
Nguyễn Xuân Nghĩa: Được thành lập từ năm 1923, đây là ngân hàng đầu tư và giao dịch chứng phiếu có tầm hoạt động toàn cầu và là ngân hàng đứng hàng thứ năm của Hoa Kỳ, với thương vụ hơn 16 tỷ tính đến cuối năm ngoái.
Trong các tổ hợp đầu tư tài chính, Bear Sterns thuộc loại liều lĩnh nhất, vì lấy rủi ro cao nhất, qua việc đầu tư vào loại tín dụng thứ cấp, gọi là sub-prime, của thị trường gia cư. Khi thị trường ấy bị đình đọng từ đầu năm ngoái, Bear Sterns bắt đầu gặp khó khăn và trái bóng tín dụng thứ cấp bị bể đã khiến hai quỹ đầu tư đối xung, hay hedge fund, của ngân hàng này bị phá sản vào tháng Sáu năm ngoái.
Nhưng từ đó về sau, tình hình vẫn không cải thiện mà vụ khủng hoảng tín dụng thứ cấp đã lan rộng thành khủng hoảng tín dụng vì các cơ sở tài chánh đều hạn chế cho vay và gây ra nạn cạn kiệt thanh khoản và ách tắc tín dụng. Những tin xấu liên tục ấy khiến cổ phiếu Bear Sterns mất giá đều. Nhưng tình hình trở thành trầm trọng từ Thứ Ba tuần qua khi có tin đồn là Bear Sterns thiếu hiện kim, là tiền mặt. Tình hình thành nguy kịch vào Thứ Sáu 14 vì trong có hai ngày, cổ phiếu của ngân hàng mất giá tới hơn 90%.
Biện pháp can thiệp
Việt Long: Và vì vậy mà Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ mới phải vào can thiệp hôm Chủ Nhật. Thưa ông, biện pháp can thiệp ấy gồm có những gì?
Nguyễn Xuân Nghĩa: Cùng phối hợp với bộ Ngân khố, là bộ Tài chính Hoa Kỳ, và ngân hàng JPMorgan Chase, Ngân hàng Trung ương Mỹ cho phép JPMorgan mua lại cổ phần của Bear Sterns với giá cực rẻ là hai đồng một cổ phiếu, tức là có 1% so với giá thị trường của Bear Serns mới hai tuần trước.
Ngân hàng Trung ương Mỹ còn ứng ra ngân khoản 30 tỷ trên các tài sản kém lưu hoạt của Bear Sterns để JPMorgan có thể ứng phó với nhu cầu thanh khoản. Cũng ngày Chủ Nhật, Ngân hàng Trung ương Mỹ còn hạ lãi suất thế chấp, là tiền lời các ngân hàng thiếu hiện kim phải trả khi cần vay ngắn hạn của Ngân hàng Trung ương.
Việt Long: Nói một cách dễ hiểu thì Ngân hàng Trung ương Mỹ đã giúp JPMorgan mua lại Bear Sterns, phải chăng là để một ngân hàng đứng hạng thứ năm của Mỹ khỏi sụp đổ? Nhưng vì sao mà một ngân hàng cổ xưa và vững chãi như vậy lại bị vỡ nợ và bán tháo?
Ngân hàng Bear Sterns còn nhiều tài sản có giá trị, kể cả trụ sở là một cao ốc trị giá hơn một tỷ ở giữa New York. Nhưng trước mắt là hết thanh khoản và nếu thân chủ hốt hoảng vì tin xấu cứ loan truyền mà kéo đến đòi tiền về thì từ tình trạng thiếu thanh khoản có thể bị vỡ nợ nhất thời, sau đó là phá sản. Đó là vấn đề kỹ thuật của ngân hàng trong một bài toán kinh tế vĩ mô của nạn cạn kiệt thanh khoản vì khủng hoảng tín dụng.
Việt Long: Trong một kỳ trước, ông có nói đến hiện tượng ông gọi là "ỷ thế làm liều" mà kinh tế học gọi là moral hazard. Bây giờ, khi ngân hàng Bear Sterns kinh doanh liều lĩnh và sắp bị vỡ nợ thì lại được Ngân hàng Trung ương Mỹ nhảy vào cấp cứu. Quyết định ấy có gây ra phản ứng tâm lý là cứ làm liều rồi sẽ được Chính quyền cứu giúp hay chăng?
Nguyễn Xuân Nghĩa: Thưa không hẳn vậy và đây là một khía cạnh lý thú của vấn đề. Vì quản trị rủi ro quá kém, ngân hàng Bear Sterns có thể lâm vào cảnh vỡ nợ kỹ thuật và tài sản rất lớn bị sụt giá mỗi ngày. Cách đây một năm, cổ phiếu của họ trị giá gần 160 đồng, tuần qua phải bán tháo với giá rẻ mạt là hai đô la. Tức là các nhà đầu tư bất cẩn đã bị thị trường trừng phạt.
Khi Ngân hàng Trung ương nhảy vào cấp cứu thì đấy không phải cấp cứu nhà đầu tư - bề nào cũng bị lỗ rồi - mà để duy trì hoạt động của Bear Sterns hầu tránh gây hốt hoảng khiến ngân hàng phá sản và các thân chủ của Bear Sterns bị vạ lây. Tóm tắt là để chặn đứng một vụ khủng hoảng dây chuyền từ Bear Sterns lây lan ra các cơ sở khác. Vì vậy, việc cấp cứu được tiến hành rất nhanh để hoàn tất trong ngày Chủ Nhật, trước khi các thị trường Á châu mở cửa vào sáng Thứ Hai.
Hôm Thứ Hai, Bears Sterns vẫn mở cửa tiếp khách và cổ phiếu giao dịch đã nhích giá được hai đồng 84 xu, và sau khi tuột giá nặng vào lúc mở cửa thì thị trường chứng khoán New York đã tạm hồi phục vào buổi chiều Thứ Hai. Qua ngày Thứ Ba thì tăng vọt từ khi mở cửa trước dự kiến là Ngân hàng Trung ương Mỹ sẽ còn hạ lãi suất mạnh để kích cầu.
Bài học cho Việt Nam
Việt Long: Điều ấy sẽ dẫn chúng ta qua bài toán của Việt Nam, nhưng trước đó, xin hỏi thêm một chi tiết là liệu biện pháp cấp cứu tuần qua có thể chặn được sự hốt hoảng và ngăn ngừa được cơn khủng hoảng tài chính tại Mỹ hay không?
Nguyễn Xuân Nghĩa: Đó là câu hỏi đáng giá bạc triệu vì ai ai cũng muốn biết, nhất là các nhà đầu tư tài chính! Dư luận đang xôn xao nói về hoàn cảnh của một số ngân hàng đầu tư hay tổ hợp kinh doanh chứng phiếu, như nhà Lehman Brothers, nhưng khó ai biết trước được mọi sự.
Tuy nhiên, nếu xét cho kỹ thì ta có thể đang chứng kiến một cuộc cách mạng về lối ứng phó của Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ và điều ấy cho thấy sự trầm trọng của vấn đề. Cách ứng phó ấy là dàn xếp cho các ngân hàng thương mại có cơ cấu tài chính lành mạnh như JPMorgan Chase có thể mua rẻ những ngân hàng đầu tư bị nguy cơ vỡ nợ vì thiếu thanh khoản. Quyết định cấp cứu Bear Sterns vì vậy có thể là tiền lệ báo hiệu cho nhiều vụ sát nhập các ngân hàng đầu tư bấp bênh để vừa tránh nạn phá sản dây chuyền vừa chấn chỉnh lại hệ thống tài chính và ngân hàng của Hoa Kỳ cho vững mạnh hơn.
Nhìn trên toàn cảnh vĩ mô thì Ngân hàng Trung ương vừa hạ lãi suất như đã thấy và có khi duy trì lãi suất ở số âm, là dưới mức lạm phát 2,2%, từ nay đến cuối năm để kích cầu, đồng thời cũng bơm thêm tiền vào hệ thống ngân hàng đang được chấn chỉnh để khai thông ách tắc tín dụng vì thiếu hiện kim. Những biện pháp đồng loạt ấy có thể giảm bớt nguy cơ suy trầm kinh tế đồng thời tránh được sự sụp đổ dây chuyền của các ngân hàng.
Việt Long: Sau khi tìm hiểu về biện pháp cứu vãn của Hoa Kỳ, giờ ta đi qua chuyện Việt Nam: có những tương đồng và dị biệt nào giữa vụ cấp cứu Bear Sterns và việc Tổng công ty đầu tư tài sản của nhà nước SCIC đang muốn cấp cứu thị trường chứng hoán hay chăng?
Nguyễn Xuân Nghĩa: Hoàn cảnh hai nước khác nhau. Hoa Kỳ muốn kích cầu để giảm thiểu nguy cơ suy trầm kinh tế đồng thời giải quyết vấn đề cạn kiệt thanh khoản. Việt Nam thì muốn đẩy lui lạm phát nhưng vì vậy mà trước mắt bị cạn kiệt thanh khoản. Thị trường chứng khoán Mỹ có sụt giá chừng 20% từ tháng 10 năm ngoái, chứ thị trường Việt Nam thì tuột mất nửa giá và vì nhiều lý cho chứ chẳng vì ngân hàng nhất thời bị thiếu thanh khoản.
Xin nói thêm rằng cơ sở đứng ra mua lại Bear Sterns là một ngân hàng tư nhân có cơ cấu tài chính vững vàng, với tài sản của tư nhân, từ nay vẫn do tư nhân quản lý. Chứ Ngân hàng Nhà nước hay bộ Tài chính Mỹ không lấy tiền thuế của dân đi cứu nhà đầu tư bất cẩn để sau đó giao cho công chức Mỹ quản lý cơ sở này như một ngân hàng quốc doanh. Khi Chính quyền Việt Nam tung ra biện pháp giải cứu bằng một doanh nghiệp nhà nước là Tổng công ty SCIC và vì những mục tiêu khác thì đấy là liều thuốc đổ bệnh mà ta cần nhìn cho ra.
Liều thuốc đổ bệnh
Việt Long: Ông có thể giải thích điều ấy cho rõ ràng hơn được không? Thế nào là liều thuốc đổ bệnh?
Nguyễn Xuân Nghĩa: Trước hết, chứng khoán Việt Nam sụt giá là chuyện tất yếu của thị trường vì giới đầu tư mong đợi quá nhiều điều không thực tế nên đã thổi lên một trái bóng đầu cơ sẽ phải bể. Không thực tế vì tiền lời của cổ tức không cao và nay có thể kém tiền lời của các trương mục tiết kiệm.
Rồi vì lạm phát bùng nổ sẽ đánh sụt mức lời của doanh nghiệp yết giá trên thị trường. Không thực tế vì các doanh nghiệp ấy lại lấy tiền đầu tư vào thị trường khác, kể cả nhà đất, theo kiểu đầu cơ. Đã thế, biện pháp ngăn ngừa lạm phát được ban hành đã nhất thời gây ra nạn cạn kiệt thanh khoản của ngân hàng, và việc đô la sụt giá rồi bị ứ đọng khiến dòng tiền chảy vào thị trường chứng khoán bị cạn. Và cơ bản nhất, các nhà đầu tư đi vào thị trường như vào sòng bạc nên mới bị lỗ nặng.
Bây giờ, vì muốn cứu vãn giới đầu cơ đó, người ta lấy tài sản công - là của công chúng - để bơm vào thị trường chứng khoán, như bơm vào một cơ thể hôn mê hầu tạo ra sự chuyển động cơ bản là giả tạo chứ không nhằm khôi phục mức sản xuất của các công ty yết giá trên sàn.
Nói vắn tắt là lại bơm tiền giúp cho một thiểu số vốn dĩ là có tiền nếu so với quảng đại quần chúng còn lại, nhưng cũng vì đó mà gây hậu quả bất lợi lâu dài cho mọi người. Trong khi lợi ích ngắn hạn là thổi phồng trị giá của cổ phiếu vẫn cũng không bền như ta đang thấy ngày nay.
Việt Long: Ông trở lại lý luận về liều thuốc đổ bệnh, thế đâu là những chứng bệnh có thể do giải pháp Tổng công ty Quản lý vốn đầu tư này gây ra?
Nguyễn Xuân Nghĩa: Công ty này có cơ chế pháp lý mù mờ mà lại có quyền can thiệp vào thị trường theo chỉ thị của Thủ tướng cho nên việc can thiệp hay mua bán cổ phiếu không tuân thủ quy luật cung cầu khách quan khi mua hay bán cổ phiếu.
Vì vậy, sự can thiệp tiện thiện và hiển nhiên là thiếu chuyên môn sẽ làm giá cổ phiếu thăng giáng theo quy luật khác hơn quy luật thị trường và mất hẳn tính khả tín, đáng tin. Rồi cũng vì vậy mà tạo ra cơ hội tham nhũng hoặc nạn giao dịch nội tuyến, tức là chỉ có lợi cho một thiểu số có quan hệ, mà vẫn làm nhà đầu tư cò con có thể sạt nghiệp. Mà đó chỉ là một trong rất nhiều tệ đoan khác.
Việt Long: Nếu đã vậy, xin ông nói thêm cho rõ hơn là những tệ đoan gì?
Nguyễn Xuân Nghĩa: Vấn đề thứ hai là khi lấy công quỹ chuyển qua SCIC bơm vào thị trường thì Chính phủ Việt Nam mặc nhiên gây thêm khiếm hụt ngân sách, hoặc phải tăng thuế, trong khi lại thổi bùng lạm phát làm mọi người đều bị lây. Chẳng hạn như bơm tiền mãi mà chỉ số VN-Index không vượt qua ngưỡng 700 điểm thì lại bơm thêm và cứ như vậy sẽ lấy tiền ở đâu, hay là sẽ phải in tiền và đẩy thêm lạm phát?
Thứ nữa, khi SCIC tập trung một số tài sản tài chính như vậy thì sẽ mặc nhiên tăng cường vai trò của doanh nghiệp nhà nước và càng có nhu cầu trì hoãn việc cổ phần hóa hay tư nhân hoá các doanh nghiệp nhà nước theo đúng với cam kết của Tổ chức WTO. Đồng thời, một số doanh nghiệp yết giá trên thị trường chứng khoán cũng sẽ có phản ứng ỷ thế làm liều, là đầu tư bất kể rủi ro, vì nghĩ rằng cuối cùng thì vẫn sẽ được Nhà nước hay Tổng công ty SCIC bơm tiền cấp cứu.
Kết cuộc thì đây là biện pháp bất công về xã hội, nguy hại về kinh tế và khiến thế giới phải xét lại mức độ tự do kinh doanh của Việt Nam khi Chính quyền có thể tùy tiện can thiệp vào thị trường và củng cố thêm vai trò của doanh nghiệp nhà nước.
(Copy RFA)
Diễn đàn Kinh tế sẽ tìm hiểu nội vụ với những phân tích liên hệ đến việc cấp cứu thị trường chứng khoán của Việt Nam. Cuộc trao đổi sau đây với kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa sẽ do Việt Long thực hiện.
Việt Long: Thưa ông Nguyễn Xuân Nghĩa, việc hệ thống Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ tung ra giải pháp cứu vớt ngân hàng đầu tư Bear Sterns đã được dư luận cho là một biện pháp bất thường.
Trong chương trình tuần này, chúng tôi xin đề nghị là ta sẽ cùng tìm hiểu về bối cảnh, nguyên nhân và hậu quả của biện pháp cấp cứu ấy, rồi qua phần so sánh với biện pháp cấp cứu thị trường chứng khoán của Tổng công ty Quản lý vốn nhà nước SCIC do Việt Nam mới ban hành vào Thứ Năm mùng sáu vừa qua. Trước hết, về bối cảnh vấn đề, ngân hàng Bear Sterns là gì và vì sao cần cấp cứu?
Nguyễn Xuân Nghĩa: Được thành lập từ năm 1923, đây là ngân hàng đầu tư và giao dịch chứng phiếu có tầm hoạt động toàn cầu và là ngân hàng đứng hàng thứ năm của Hoa Kỳ, với thương vụ hơn 16 tỷ tính đến cuối năm ngoái.
Trong các tổ hợp đầu tư tài chính, Bear Sterns thuộc loại liều lĩnh nhất, vì lấy rủi ro cao nhất, qua việc đầu tư vào loại tín dụng thứ cấp, gọi là sub-prime, của thị trường gia cư. Khi thị trường ấy bị đình đọng từ đầu năm ngoái, Bear Sterns bắt đầu gặp khó khăn và trái bóng tín dụng thứ cấp bị bể đã khiến hai quỹ đầu tư đối xung, hay hedge fund, của ngân hàng này bị phá sản vào tháng Sáu năm ngoái.
Nhưng từ đó về sau, tình hình vẫn không cải thiện mà vụ khủng hoảng tín dụng thứ cấp đã lan rộng thành khủng hoảng tín dụng vì các cơ sở tài chánh đều hạn chế cho vay và gây ra nạn cạn kiệt thanh khoản và ách tắc tín dụng. Những tin xấu liên tục ấy khiến cổ phiếu Bear Sterns mất giá đều. Nhưng tình hình trở thành trầm trọng từ Thứ Ba tuần qua khi có tin đồn là Bear Sterns thiếu hiện kim, là tiền mặt. Tình hình thành nguy kịch vào Thứ Sáu 14 vì trong có hai ngày, cổ phiếu của ngân hàng mất giá tới hơn 90%.
Biện pháp can thiệp
Việt Long: Và vì vậy mà Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ mới phải vào can thiệp hôm Chủ Nhật. Thưa ông, biện pháp can thiệp ấy gồm có những gì?
Nguyễn Xuân Nghĩa: Cùng phối hợp với bộ Ngân khố, là bộ Tài chính Hoa Kỳ, và ngân hàng JPMorgan Chase, Ngân hàng Trung ương Mỹ cho phép JPMorgan mua lại cổ phần của Bear Sterns với giá cực rẻ là hai đồng một cổ phiếu, tức là có 1% so với giá thị trường của Bear Serns mới hai tuần trước.
Ngân hàng Trung ương Mỹ còn ứng ra ngân khoản 30 tỷ trên các tài sản kém lưu hoạt của Bear Sterns để JPMorgan có thể ứng phó với nhu cầu thanh khoản. Cũng ngày Chủ Nhật, Ngân hàng Trung ương Mỹ còn hạ lãi suất thế chấp, là tiền lời các ngân hàng thiếu hiện kim phải trả khi cần vay ngắn hạn của Ngân hàng Trung ương.
Việt Long: Nói một cách dễ hiểu thì Ngân hàng Trung ương Mỹ đã giúp JPMorgan mua lại Bear Sterns, phải chăng là để một ngân hàng đứng hạng thứ năm của Mỹ khỏi sụp đổ? Nhưng vì sao mà một ngân hàng cổ xưa và vững chãi như vậy lại bị vỡ nợ và bán tháo?
Ngân hàng Bear Sterns còn nhiều tài sản có giá trị, kể cả trụ sở là một cao ốc trị giá hơn một tỷ ở giữa New York. Nhưng trước mắt là hết thanh khoản và nếu thân chủ hốt hoảng vì tin xấu cứ loan truyền mà kéo đến đòi tiền về thì từ tình trạng thiếu thanh khoản có thể bị vỡ nợ nhất thời, sau đó là phá sản. Đó là vấn đề kỹ thuật của ngân hàng trong một bài toán kinh tế vĩ mô của nạn cạn kiệt thanh khoản vì khủng hoảng tín dụng.
Việt Long: Trong một kỳ trước, ông có nói đến hiện tượng ông gọi là "ỷ thế làm liều" mà kinh tế học gọi là moral hazard. Bây giờ, khi ngân hàng Bear Sterns kinh doanh liều lĩnh và sắp bị vỡ nợ thì lại được Ngân hàng Trung ương Mỹ nhảy vào cấp cứu. Quyết định ấy có gây ra phản ứng tâm lý là cứ làm liều rồi sẽ được Chính quyền cứu giúp hay chăng?
Nguyễn Xuân Nghĩa: Thưa không hẳn vậy và đây là một khía cạnh lý thú của vấn đề. Vì quản trị rủi ro quá kém, ngân hàng Bear Sterns có thể lâm vào cảnh vỡ nợ kỹ thuật và tài sản rất lớn bị sụt giá mỗi ngày. Cách đây một năm, cổ phiếu của họ trị giá gần 160 đồng, tuần qua phải bán tháo với giá rẻ mạt là hai đô la. Tức là các nhà đầu tư bất cẩn đã bị thị trường trừng phạt.
Khi Ngân hàng Trung ương nhảy vào cấp cứu thì đấy không phải cấp cứu nhà đầu tư - bề nào cũng bị lỗ rồi - mà để duy trì hoạt động của Bear Sterns hầu tránh gây hốt hoảng khiến ngân hàng phá sản và các thân chủ của Bear Sterns bị vạ lây. Tóm tắt là để chặn đứng một vụ khủng hoảng dây chuyền từ Bear Sterns lây lan ra các cơ sở khác. Vì vậy, việc cấp cứu được tiến hành rất nhanh để hoàn tất trong ngày Chủ Nhật, trước khi các thị trường Á châu mở cửa vào sáng Thứ Hai.
Hôm Thứ Hai, Bears Sterns vẫn mở cửa tiếp khách và cổ phiếu giao dịch đã nhích giá được hai đồng 84 xu, và sau khi tuột giá nặng vào lúc mở cửa thì thị trường chứng khoán New York đã tạm hồi phục vào buổi chiều Thứ Hai. Qua ngày Thứ Ba thì tăng vọt từ khi mở cửa trước dự kiến là Ngân hàng Trung ương Mỹ sẽ còn hạ lãi suất mạnh để kích cầu.
Bài học cho Việt Nam
Việt Long: Điều ấy sẽ dẫn chúng ta qua bài toán của Việt Nam, nhưng trước đó, xin hỏi thêm một chi tiết là liệu biện pháp cấp cứu tuần qua có thể chặn được sự hốt hoảng và ngăn ngừa được cơn khủng hoảng tài chính tại Mỹ hay không?
Nguyễn Xuân Nghĩa: Đó là câu hỏi đáng giá bạc triệu vì ai ai cũng muốn biết, nhất là các nhà đầu tư tài chính! Dư luận đang xôn xao nói về hoàn cảnh của một số ngân hàng đầu tư hay tổ hợp kinh doanh chứng phiếu, như nhà Lehman Brothers, nhưng khó ai biết trước được mọi sự.
Tuy nhiên, nếu xét cho kỹ thì ta có thể đang chứng kiến một cuộc cách mạng về lối ứng phó của Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ và điều ấy cho thấy sự trầm trọng của vấn đề. Cách ứng phó ấy là dàn xếp cho các ngân hàng thương mại có cơ cấu tài chính lành mạnh như JPMorgan Chase có thể mua rẻ những ngân hàng đầu tư bị nguy cơ vỡ nợ vì thiếu thanh khoản. Quyết định cấp cứu Bear Sterns vì vậy có thể là tiền lệ báo hiệu cho nhiều vụ sát nhập các ngân hàng đầu tư bấp bênh để vừa tránh nạn phá sản dây chuyền vừa chấn chỉnh lại hệ thống tài chính và ngân hàng của Hoa Kỳ cho vững mạnh hơn.
Nhìn trên toàn cảnh vĩ mô thì Ngân hàng Trung ương vừa hạ lãi suất như đã thấy và có khi duy trì lãi suất ở số âm, là dưới mức lạm phát 2,2%, từ nay đến cuối năm để kích cầu, đồng thời cũng bơm thêm tiền vào hệ thống ngân hàng đang được chấn chỉnh để khai thông ách tắc tín dụng vì thiếu hiện kim. Những biện pháp đồng loạt ấy có thể giảm bớt nguy cơ suy trầm kinh tế đồng thời tránh được sự sụp đổ dây chuyền của các ngân hàng.
Việt Long: Sau khi tìm hiểu về biện pháp cứu vãn của Hoa Kỳ, giờ ta đi qua chuyện Việt Nam: có những tương đồng và dị biệt nào giữa vụ cấp cứu Bear Sterns và việc Tổng công ty đầu tư tài sản của nhà nước SCIC đang muốn cấp cứu thị trường chứng hoán hay chăng?
Nguyễn Xuân Nghĩa: Hoàn cảnh hai nước khác nhau. Hoa Kỳ muốn kích cầu để giảm thiểu nguy cơ suy trầm kinh tế đồng thời giải quyết vấn đề cạn kiệt thanh khoản. Việt Nam thì muốn đẩy lui lạm phát nhưng vì vậy mà trước mắt bị cạn kiệt thanh khoản. Thị trường chứng khoán Mỹ có sụt giá chừng 20% từ tháng 10 năm ngoái, chứ thị trường Việt Nam thì tuột mất nửa giá và vì nhiều lý cho chứ chẳng vì ngân hàng nhất thời bị thiếu thanh khoản.
Xin nói thêm rằng cơ sở đứng ra mua lại Bear Sterns là một ngân hàng tư nhân có cơ cấu tài chính vững vàng, với tài sản của tư nhân, từ nay vẫn do tư nhân quản lý. Chứ Ngân hàng Nhà nước hay bộ Tài chính Mỹ không lấy tiền thuế của dân đi cứu nhà đầu tư bất cẩn để sau đó giao cho công chức Mỹ quản lý cơ sở này như một ngân hàng quốc doanh. Khi Chính quyền Việt Nam tung ra biện pháp giải cứu bằng một doanh nghiệp nhà nước là Tổng công ty SCIC và vì những mục tiêu khác thì đấy là liều thuốc đổ bệnh mà ta cần nhìn cho ra.
Liều thuốc đổ bệnh
Việt Long: Ông có thể giải thích điều ấy cho rõ ràng hơn được không? Thế nào là liều thuốc đổ bệnh?
Nguyễn Xuân Nghĩa: Trước hết, chứng khoán Việt Nam sụt giá là chuyện tất yếu của thị trường vì giới đầu tư mong đợi quá nhiều điều không thực tế nên đã thổi lên một trái bóng đầu cơ sẽ phải bể. Không thực tế vì tiền lời của cổ tức không cao và nay có thể kém tiền lời của các trương mục tiết kiệm.
Rồi vì lạm phát bùng nổ sẽ đánh sụt mức lời của doanh nghiệp yết giá trên thị trường. Không thực tế vì các doanh nghiệp ấy lại lấy tiền đầu tư vào thị trường khác, kể cả nhà đất, theo kiểu đầu cơ. Đã thế, biện pháp ngăn ngừa lạm phát được ban hành đã nhất thời gây ra nạn cạn kiệt thanh khoản của ngân hàng, và việc đô la sụt giá rồi bị ứ đọng khiến dòng tiền chảy vào thị trường chứng khoán bị cạn. Và cơ bản nhất, các nhà đầu tư đi vào thị trường như vào sòng bạc nên mới bị lỗ nặng.
Bây giờ, vì muốn cứu vãn giới đầu cơ đó, người ta lấy tài sản công - là của công chúng - để bơm vào thị trường chứng khoán, như bơm vào một cơ thể hôn mê hầu tạo ra sự chuyển động cơ bản là giả tạo chứ không nhằm khôi phục mức sản xuất của các công ty yết giá trên sàn.
Nói vắn tắt là lại bơm tiền giúp cho một thiểu số vốn dĩ là có tiền nếu so với quảng đại quần chúng còn lại, nhưng cũng vì đó mà gây hậu quả bất lợi lâu dài cho mọi người. Trong khi lợi ích ngắn hạn là thổi phồng trị giá của cổ phiếu vẫn cũng không bền như ta đang thấy ngày nay.
Việt Long: Ông trở lại lý luận về liều thuốc đổ bệnh, thế đâu là những chứng bệnh có thể do giải pháp Tổng công ty Quản lý vốn đầu tư này gây ra?
Nguyễn Xuân Nghĩa: Công ty này có cơ chế pháp lý mù mờ mà lại có quyền can thiệp vào thị trường theo chỉ thị của Thủ tướng cho nên việc can thiệp hay mua bán cổ phiếu không tuân thủ quy luật cung cầu khách quan khi mua hay bán cổ phiếu.
Vì vậy, sự can thiệp tiện thiện và hiển nhiên là thiếu chuyên môn sẽ làm giá cổ phiếu thăng giáng theo quy luật khác hơn quy luật thị trường và mất hẳn tính khả tín, đáng tin. Rồi cũng vì vậy mà tạo ra cơ hội tham nhũng hoặc nạn giao dịch nội tuyến, tức là chỉ có lợi cho một thiểu số có quan hệ, mà vẫn làm nhà đầu tư cò con có thể sạt nghiệp. Mà đó chỉ là một trong rất nhiều tệ đoan khác.
Việt Long: Nếu đã vậy, xin ông nói thêm cho rõ hơn là những tệ đoan gì?
Nguyễn Xuân Nghĩa: Vấn đề thứ hai là khi lấy công quỹ chuyển qua SCIC bơm vào thị trường thì Chính phủ Việt Nam mặc nhiên gây thêm khiếm hụt ngân sách, hoặc phải tăng thuế, trong khi lại thổi bùng lạm phát làm mọi người đều bị lây. Chẳng hạn như bơm tiền mãi mà chỉ số VN-Index không vượt qua ngưỡng 700 điểm thì lại bơm thêm và cứ như vậy sẽ lấy tiền ở đâu, hay là sẽ phải in tiền và đẩy thêm lạm phát?
Thứ nữa, khi SCIC tập trung một số tài sản tài chính như vậy thì sẽ mặc nhiên tăng cường vai trò của doanh nghiệp nhà nước và càng có nhu cầu trì hoãn việc cổ phần hóa hay tư nhân hoá các doanh nghiệp nhà nước theo đúng với cam kết của Tổ chức WTO. Đồng thời, một số doanh nghiệp yết giá trên thị trường chứng khoán cũng sẽ có phản ứng ỷ thế làm liều, là đầu tư bất kể rủi ro, vì nghĩ rằng cuối cùng thì vẫn sẽ được Nhà nước hay Tổng công ty SCIC bơm tiền cấp cứu.
Kết cuộc thì đây là biện pháp bất công về xã hội, nguy hại về kinh tế và khiến thế giới phải xét lại mức độ tự do kinh doanh của Việt Nam khi Chính quyền có thể tùy tiện can thiệp vào thị trường và củng cố thêm vai trò của doanh nghiệp nhà nước.
(Copy RFA)
SCSI can thiệp vào thị trường chứng khoán - Hiệu quả ngắn, Hệ quả dài?
Ngày 5 tháng Ba vừa qua, chính phủ Việt Nam ra văn bản gồm 19 giải pháp nhằm kìm chế lạm phát và giúp phát triển thị trường chứng khoán.
Trong khía cạnh phát triển thị trường chứng khoán đang lâm vào tình trạng ảm đạm trong những tháng qua, một tổng công ty có tên “Đầu Tư Kinh Doanh Vốn Nhà Nước,” gọi tắt là SCIC, sẽ cùng các cơ quan chức năng lên kế hoạch mua cổ phiếu trên thị trường.
Giới nghiên cứu và đầu tư nghĩ gì về việc nhà nước dùng ngân sách công để kích thích thị trường chứng khoán? Và liệu những câu hỏi liên quan đến sự vận hành minh bạch của công ty này sẽ được trả lời ra sao?
Giải pháp 19 điểm
Thị trường chứng khoán Việt Nam tăng điểm mạnh trong các phiên giao dịch ngày 10 tháng Ba. Tuy nhiên chỉ trước đó ít hôm, tâm lý lo âu bao trùm giới đầu tư cả nước. Trước tình trạng này, chính phủ đã phải quyết định huỷ bỏ một cuộc hội thảo quốc tế quan trọng về đầu tư chỉ còn vài ngày nữa sẽ được tổ chức tại Việt Nam. Và cũng chỉ trước đó ít hôm, con số tổng kết cho thấy chỉ số chứng khoán mất đúng một nửa kể từ tháng Ba năm ngoái đến nay.
Điều kỳ diệu nào đã xảy ra trong những ngày đầu tháng Ba?
Người ta tin rằng, điều kỳ diệu này đến từ chính phủ, bắt đầu vào đúng thời điểm chính phủ tuyên bố giải pháp 19 điểm vào ngày 5 tháng Ba để vừa kìm chế lạm phát, vừa giúp phát triển thị trường chứng khoán.
Tin báo chí trong nước viết rằng, trưa ngày 5 tháng Ba, ông Phó Chủ Tịch Uỷ Ban Chứng Khoán Nhà Nước Nguyễn Đoan Hùng thông báo là chính phủ đã ký văn bản với những điều khoản rất cụ thể. Và ngay sau khi nhận được 19 giải pháp của chính phủ, Uỷ Ban đã gặp gỡ trực tiếp Bộ Trưởng Bộ Tài Chánh, kiêm Chủ Tịch Tổng Công Ty Đầu Tư Kinh Doanh Vốn Nhà Nước, gọi tắt là SCIC, lên kế hoạch về việc SCIC mua cổ phiếu trên thị trường chứng khoán.
Giới chuyên gia hoài nghi
Trong khi giới đầu tư phấn khởi vì giá chứng khoán lên trở lại, một số nhà nghiên cứu bắt đầu đặt câu hỏi: SCIC có vai trò ra sao, sẽ mua cổ phiếu nào, sẽ tung ra bao nhiêu vốn? SCIC là ai mà có thể tạo ảnh hưởng nhanh chóng đến như vậy?
Có những câu hỏi khác, tế nhị hơn, thì lại ít được nhắc đến. Bản tin VnEconomy ngày 9 tháng Ba viết rằng: “Có những câu hỏi trực tiếp tới quyền lợi, trách nhiệm và cả hình ảnh của SCIC lại ít được nhắc tới.”
Trước khi đi sâu vào những câu hỏi này, điều đầu tiên được đặt ra, là Nhà Nước, thông qua Bộ Tài Chánh, đã hiểu lầm chức năng của mình khi tự cho mình vai trò điều tiết chính sách kinh tế vĩ mô để vực thị trường chứng khoán dậy. Nhà phân tích kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa nhận định:
“Trước khi giới đầu tư lập kiến nghị cầu cứu thì Bộ Tài chính đã muốn điều tiết chính sách kinh tế vĩ mô để vực thị trường chứng khoán dậy. Nó nguy kịch vì từ nguyên thủy, thị trường chứng khoán được lập ra để huy động vốn tiết kiệm vào đầu tư, bây giờ, người ta lại muốn dùng tài sản công để bơm tiền vào thị trường hầu cấp cứu các nhà đầu cơ. Và bơm tiền khi đang bị lạm phát tiền tệ trên hai số. Theo thiển ý thì việc Bộ Tài chính hiểu lầm về chức năng của thị trường mới là điều đáng sợ.”
Từ Hà Nội, tiến sĩ Nguyễn Quang A, một người hoạt động trong ngành ngân hàng, đưa ra những nhận định dè dặt. Ông Nguyễn Quang A đặt ra những giả thiết có tính điều kiện về sự tồn tại, về vai trò và về hiệu quả của SCIC:
“Đầu tiên, SCIC là một công ty đầu tư vốn. Nếu công ty này đầu tư với tư cách là một công ty vì mục đích kinh tế, thậm chí có thể một phần nào đấy như công cụ chính phủ, thì đầu tư vào chứng khoán của SCIC là điều bình thường. Nhưng nếu chính phủ dùng SCIC như một biện pháp, thì có thể có tâm lý tốt ngắn hạn nào đó, nhưng về dài thì không thể là một cách làm tốt.”
Vai trò của SCIC?
Theo báo Thanh Niên số ra ngày 6 tháng Ba, dẫn lời ông Phó Chủ Tịch Uỷ Ban Chứng Khoán Nhà Nước, rằng “Nhà nước, thông qua SCIC sẽ mua một lượng cổ phiếu trên thị trường để kích cầu.”
Các cổ phiếu được chọn mua phải là những cổ phiếu của công ty có uy tín và tính thanh khoản cao. Cho đến thời điểm này, chưa ai biết cụ thể định nghĩa thế nào thì được gọi là “có uy tín và có tính thanh khoản cao.”
Giới chức nhà nước nói rằng, cần phải hiểu SCIC tham gia thị trường với mục đích khẳng định sử ổn định và thiện ý của chính sách vĩ mô. “Thiện ý” có nhất thiết đồng nghĩa với sự sử dụng ngân sách nhà nước để tác động vào qui luật cung cầu của thị trường? Từ tư thế của nhà nước, thiện ý nên đồng nghĩa với việc tạo môi trường kinh tế minh bạch, công bằng và mang tính cạnh tranh. Ông Nguyễn Xuân Nghĩa phân tích:
“Nhà nước chỉ nên can thiệp để khai thông ách tắc hầu quy luật thị trường được vận hành hài hoà, trơn tru, chứ không du di hoặc di chuyển tài sản từ chổ này qua chỗ khác nhằm cứu vớt một thành phần nào đó mà không có lợi ích gia tăng sản xuất. Vấn đề nguy kịch là khi lãnh đạo phản ứng theo tâm lý của một thành phần dân chúng và gây thiệt hại cho các thành phần khác.”
Tiến sĩ Nguyễn Quang A, người đã từng phát biểu với báo chí trong nước về vai trò của SCIC, nói rằng dư luận trong nước cũng có nghi ngờ sự thiên vị trong tiến trình SCIC chọn mua cổ phiếu. Ông nói là điều này người ngoài khó biết ai được chọn.
Theo Tiến sĩ A, SCIC được xây dựng với mục đích làm các doanh nghiệp nhà nước dần dần được chuyển về công ty này. Công ty này là chủ sở hữu đại diện nhà nước cai quản các doanh nghiệp đó.
Theo nhận định của ông, SCIC sẽ đầu tư hoặc bán dần các doanh nghiệp quốc doanh đã được cổ phần hoá. Nếu SCIC có tư thế hoạt động độc lập như mô hình Temasek của Singapore, thì sự tồn tại là hợp lý. Còn trong trường hợp muốn vực thị trường chứng khoán, những biện pháp như thế là không tốt:
“Tôi không rõ họ mua cổ phần các công ty nào. Tôi đã từng phát biểu trong nước, nếu họ muốn mua, họ nên mua cổ phần các công ty không phải doanh nghiệp quốc doanh đã được cổ phần hoá để không mang tiếng. Tôi không rõ họ sẽ mua của ai. Còn nếu họ mua công ty quốc doanh thì có thể xảy ra điều nghi ngờ về tâm lý giới đầu tư.”
Bản tin của tờ Thanh Niên ra ngày 7 tháng Ba viết rằng SCIC không tiết lộ cụ thể các cổ phần họ chọn mua vào, nhưng đại diện của họ cho biết là “Việc xác định danh mục đầu tư, khối lượng giao dịch, mức giá và thời điểm mua vào sẽ được SCIC quyết định linh hoạt, tùy theo các diễn biến của thị trường, đồng thời bám sát chỉ đạo của Chính phủ và phù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành.”
Lời phát biểu như vậy có thể được hiểu, rằng nhà nước hiểu rõ, và tự cho mình, vai trò tác động trực tiếp vào thị trường bằng những hoạt động mua bán được uỷ thác cho SCIC. Vai trò như vậy nên được hiểu như thế nào? Tiến sĩ Nguyễn Quang A nhận định:
“Tác động như vậy không phải là việc của nhà nước. Nhà nước không phải làm cái việc kích cho thị trường lên. Báo chí trong nước hay dùng chữ “cứu” thì hết sức lầm lẫn. Còn nếu thật sự là để “cứu” thị trường, thì nhà nước không thể làm việc đó được.”
Như vậy, trở lại câu hỏi SCIC là ai?
Bản tin VnEconomy ngày 9 tháng Ba đặt câu hỏi có hay không có sự lẫn lộn giữa các hành vi của SCIC trong vai trò công cụ của chính phủ điều tiết thị trường mỗi khi chứng khoán giảm nghiêm trọng.
Bài báo đặt câu hỏi điều gì sẽ xảy ra nếu đầu tư của SCIC bị lỗ và được ngân sách bù lỗ? Trong trường hợp đó, có hay không có sự tách biệt rạch ròi với hoạt động đầu tư thực sự của SCIC? Bởi phía sau câu hỏi này, bài báo viết tiếp, có thể có những khoản lỗ “ngoài vùng phủ sóng” rất nhạy cảm.
Một nhà đầu tư trong nước, yêu cầu không nêu tên, nhận xét là hoạt động của SCIC chẳng những tạo ra tâm lý “ỷ thế làm liều” nơi giới đầu tư mà còn tạo một tâm lý rất sai khác, rằng nhà nước tự cho mình tâm lý hễ mình nhúng tay vào là làm được.
Sự trỗi dậy của chứng khoán trong ngày 10 tháng Ba sẽ cho tâm lý như vậy, nhưng những bất cập trong cơ chế hoạt động của SCIC lại nằm ở phía sau ngày 10 tháng Ba mà mức độ lợi hay hại khó có thể tiên đoán ra sao.
(Source: RFA)
Trong khía cạnh phát triển thị trường chứng khoán đang lâm vào tình trạng ảm đạm trong những tháng qua, một tổng công ty có tên “Đầu Tư Kinh Doanh Vốn Nhà Nước,” gọi tắt là SCIC, sẽ cùng các cơ quan chức năng lên kế hoạch mua cổ phiếu trên thị trường.
Giới nghiên cứu và đầu tư nghĩ gì về việc nhà nước dùng ngân sách công để kích thích thị trường chứng khoán? Và liệu những câu hỏi liên quan đến sự vận hành minh bạch của công ty này sẽ được trả lời ra sao?
Giải pháp 19 điểm
Thị trường chứng khoán Việt Nam tăng điểm mạnh trong các phiên giao dịch ngày 10 tháng Ba. Tuy nhiên chỉ trước đó ít hôm, tâm lý lo âu bao trùm giới đầu tư cả nước. Trước tình trạng này, chính phủ đã phải quyết định huỷ bỏ một cuộc hội thảo quốc tế quan trọng về đầu tư chỉ còn vài ngày nữa sẽ được tổ chức tại Việt Nam. Và cũng chỉ trước đó ít hôm, con số tổng kết cho thấy chỉ số chứng khoán mất đúng một nửa kể từ tháng Ba năm ngoái đến nay.
Điều kỳ diệu nào đã xảy ra trong những ngày đầu tháng Ba?
Người ta tin rằng, điều kỳ diệu này đến từ chính phủ, bắt đầu vào đúng thời điểm chính phủ tuyên bố giải pháp 19 điểm vào ngày 5 tháng Ba để vừa kìm chế lạm phát, vừa giúp phát triển thị trường chứng khoán.
Tin báo chí trong nước viết rằng, trưa ngày 5 tháng Ba, ông Phó Chủ Tịch Uỷ Ban Chứng Khoán Nhà Nước Nguyễn Đoan Hùng thông báo là chính phủ đã ký văn bản với những điều khoản rất cụ thể. Và ngay sau khi nhận được 19 giải pháp của chính phủ, Uỷ Ban đã gặp gỡ trực tiếp Bộ Trưởng Bộ Tài Chánh, kiêm Chủ Tịch Tổng Công Ty Đầu Tư Kinh Doanh Vốn Nhà Nước, gọi tắt là SCIC, lên kế hoạch về việc SCIC mua cổ phiếu trên thị trường chứng khoán.
Giới chuyên gia hoài nghi
Trong khi giới đầu tư phấn khởi vì giá chứng khoán lên trở lại, một số nhà nghiên cứu bắt đầu đặt câu hỏi: SCIC có vai trò ra sao, sẽ mua cổ phiếu nào, sẽ tung ra bao nhiêu vốn? SCIC là ai mà có thể tạo ảnh hưởng nhanh chóng đến như vậy?
Có những câu hỏi khác, tế nhị hơn, thì lại ít được nhắc đến. Bản tin VnEconomy ngày 9 tháng Ba viết rằng: “Có những câu hỏi trực tiếp tới quyền lợi, trách nhiệm và cả hình ảnh của SCIC lại ít được nhắc tới.”
Trước khi đi sâu vào những câu hỏi này, điều đầu tiên được đặt ra, là Nhà Nước, thông qua Bộ Tài Chánh, đã hiểu lầm chức năng của mình khi tự cho mình vai trò điều tiết chính sách kinh tế vĩ mô để vực thị trường chứng khoán dậy. Nhà phân tích kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa nhận định:
“Trước khi giới đầu tư lập kiến nghị cầu cứu thì Bộ Tài chính đã muốn điều tiết chính sách kinh tế vĩ mô để vực thị trường chứng khoán dậy. Nó nguy kịch vì từ nguyên thủy, thị trường chứng khoán được lập ra để huy động vốn tiết kiệm vào đầu tư, bây giờ, người ta lại muốn dùng tài sản công để bơm tiền vào thị trường hầu cấp cứu các nhà đầu cơ. Và bơm tiền khi đang bị lạm phát tiền tệ trên hai số. Theo thiển ý thì việc Bộ Tài chính hiểu lầm về chức năng của thị trường mới là điều đáng sợ.”
Từ Hà Nội, tiến sĩ Nguyễn Quang A, một người hoạt động trong ngành ngân hàng, đưa ra những nhận định dè dặt. Ông Nguyễn Quang A đặt ra những giả thiết có tính điều kiện về sự tồn tại, về vai trò và về hiệu quả của SCIC:
“Đầu tiên, SCIC là một công ty đầu tư vốn. Nếu công ty này đầu tư với tư cách là một công ty vì mục đích kinh tế, thậm chí có thể một phần nào đấy như công cụ chính phủ, thì đầu tư vào chứng khoán của SCIC là điều bình thường. Nhưng nếu chính phủ dùng SCIC như một biện pháp, thì có thể có tâm lý tốt ngắn hạn nào đó, nhưng về dài thì không thể là một cách làm tốt.”
Vai trò của SCIC?
Theo báo Thanh Niên số ra ngày 6 tháng Ba, dẫn lời ông Phó Chủ Tịch Uỷ Ban Chứng Khoán Nhà Nước, rằng “Nhà nước, thông qua SCIC sẽ mua một lượng cổ phiếu trên thị trường để kích cầu.”
Các cổ phiếu được chọn mua phải là những cổ phiếu của công ty có uy tín và tính thanh khoản cao. Cho đến thời điểm này, chưa ai biết cụ thể định nghĩa thế nào thì được gọi là “có uy tín và có tính thanh khoản cao.”
Giới chức nhà nước nói rằng, cần phải hiểu SCIC tham gia thị trường với mục đích khẳng định sử ổn định và thiện ý của chính sách vĩ mô. “Thiện ý” có nhất thiết đồng nghĩa với sự sử dụng ngân sách nhà nước để tác động vào qui luật cung cầu của thị trường? Từ tư thế của nhà nước, thiện ý nên đồng nghĩa với việc tạo môi trường kinh tế minh bạch, công bằng và mang tính cạnh tranh. Ông Nguyễn Xuân Nghĩa phân tích:
“Nhà nước chỉ nên can thiệp để khai thông ách tắc hầu quy luật thị trường được vận hành hài hoà, trơn tru, chứ không du di hoặc di chuyển tài sản từ chổ này qua chỗ khác nhằm cứu vớt một thành phần nào đó mà không có lợi ích gia tăng sản xuất. Vấn đề nguy kịch là khi lãnh đạo phản ứng theo tâm lý của một thành phần dân chúng và gây thiệt hại cho các thành phần khác.”
Tiến sĩ Nguyễn Quang A, người đã từng phát biểu với báo chí trong nước về vai trò của SCIC, nói rằng dư luận trong nước cũng có nghi ngờ sự thiên vị trong tiến trình SCIC chọn mua cổ phiếu. Ông nói là điều này người ngoài khó biết ai được chọn.
Theo Tiến sĩ A, SCIC được xây dựng với mục đích làm các doanh nghiệp nhà nước dần dần được chuyển về công ty này. Công ty này là chủ sở hữu đại diện nhà nước cai quản các doanh nghiệp đó.
Theo nhận định của ông, SCIC sẽ đầu tư hoặc bán dần các doanh nghiệp quốc doanh đã được cổ phần hoá. Nếu SCIC có tư thế hoạt động độc lập như mô hình Temasek của Singapore, thì sự tồn tại là hợp lý. Còn trong trường hợp muốn vực thị trường chứng khoán, những biện pháp như thế là không tốt:
“Tôi không rõ họ mua cổ phần các công ty nào. Tôi đã từng phát biểu trong nước, nếu họ muốn mua, họ nên mua cổ phần các công ty không phải doanh nghiệp quốc doanh đã được cổ phần hoá để không mang tiếng. Tôi không rõ họ sẽ mua của ai. Còn nếu họ mua công ty quốc doanh thì có thể xảy ra điều nghi ngờ về tâm lý giới đầu tư.”
Bản tin của tờ Thanh Niên ra ngày 7 tháng Ba viết rằng SCIC không tiết lộ cụ thể các cổ phần họ chọn mua vào, nhưng đại diện của họ cho biết là “Việc xác định danh mục đầu tư, khối lượng giao dịch, mức giá và thời điểm mua vào sẽ được SCIC quyết định linh hoạt, tùy theo các diễn biến của thị trường, đồng thời bám sát chỉ đạo của Chính phủ và phù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành.”
Lời phát biểu như vậy có thể được hiểu, rằng nhà nước hiểu rõ, và tự cho mình, vai trò tác động trực tiếp vào thị trường bằng những hoạt động mua bán được uỷ thác cho SCIC. Vai trò như vậy nên được hiểu như thế nào? Tiến sĩ Nguyễn Quang A nhận định:
“Tác động như vậy không phải là việc của nhà nước. Nhà nước không phải làm cái việc kích cho thị trường lên. Báo chí trong nước hay dùng chữ “cứu” thì hết sức lầm lẫn. Còn nếu thật sự là để “cứu” thị trường, thì nhà nước không thể làm việc đó được.”
Như vậy, trở lại câu hỏi SCIC là ai?
Bản tin VnEconomy ngày 9 tháng Ba đặt câu hỏi có hay không có sự lẫn lộn giữa các hành vi của SCIC trong vai trò công cụ của chính phủ điều tiết thị trường mỗi khi chứng khoán giảm nghiêm trọng.
Bài báo đặt câu hỏi điều gì sẽ xảy ra nếu đầu tư của SCIC bị lỗ và được ngân sách bù lỗ? Trong trường hợp đó, có hay không có sự tách biệt rạch ròi với hoạt động đầu tư thực sự của SCIC? Bởi phía sau câu hỏi này, bài báo viết tiếp, có thể có những khoản lỗ “ngoài vùng phủ sóng” rất nhạy cảm.
Một nhà đầu tư trong nước, yêu cầu không nêu tên, nhận xét là hoạt động của SCIC chẳng những tạo ra tâm lý “ỷ thế làm liều” nơi giới đầu tư mà còn tạo một tâm lý rất sai khác, rằng nhà nước tự cho mình tâm lý hễ mình nhúng tay vào là làm được.
Sự trỗi dậy của chứng khoán trong ngày 10 tháng Ba sẽ cho tâm lý như vậy, nhưng những bất cập trong cơ chế hoạt động của SCIC lại nằm ở phía sau ngày 10 tháng Ba mà mức độ lợi hay hại khó có thể tiên đoán ra sao.
(Source: RFA)
Chứng khoán và bàn tay hữu hình ( Bài học đã qua)
VNindex từ đỉnh cao 1100 điểm đổ sụp xuống chỉ còn xung quanh 600 điểm sau bốn tháng ngắn ngủi kể từ 11/2007.
Trong bốn tháng ấy, đã có sức ép ghê gớm từ nhiều bên có lợi ích liên quan đòi hỏi chính phủ phải can thiệp “cứu” TTCK, bằng cách “giảm cung” (thông qua việc hoãn tiến độ IPO các doanh nghiệp nhà nước), và mới đây là “tăng cầu” (thông qua việc cho Tổng công ty Quản lí vốn Nhà nước SCIC mua lại cổ phiếu trên thị trường).
Những sức ép này đang thắng thế (IPO của nhiều doanh nghiệp lớn đã bị trì hoãn), và mới đây Thủ tướng đã ra Quyết định 319/TTg mở đường cho SCIC mua cổ phiếu để “kích cầu”.
Cái gọi là “giải pháp hạn chế cung” dù đã áp dụng vẫn không ngăn được VNindex sụp đổ, đơn giản là vì quy luật cung cầu không tồn tại trong TTCK (xem bài “Quan niệm sai về chứng khoán”).
TTCK chỉ có một quy luật vận hành là cân bằng “lợi nhuận kì vọng”: Khi lợi nhuận kì vọng của cổ phiếu giảm so với trước hoặc so với các hình thức đầu tư khác (mua vàng, đầu cơ bất động sản, gửi tiết kiệm) thì giá của từng cổ phiếu giảm và ngược lại.
Giá của mỗi cổ phiếu chỉ được quy định bởi chênh lệch giữa mức sinh lợi của doanh nghiệp đó với mức sinh lợi của hình thức đầu tư khác có mức sinh lợi cao nhất.
Vì thế, nếu không bị hạn chế về thanh khoản, thì việc hoãn lên sàn các doanh nghiệp mới như đề nghị của trường phái “cung cầu chứng khoán” không thể tác động đến giá cổ phiếu của các doanh nghiệp hiện tại.
Sụp đổ hợp lý
Gần đây, một số nhà đầu tư (chẳng hạn, ngân hàng HSBC) cho rằng giá cổ phiếu đã ở mức hợp lý so với các nước cùng trình độ (P/E trên toàn thị trường là 13).
Nhưng việc so sánh P/E của VN với các nước chỉ có ý nghĩa khi lãi suất ổn định ở mức thấp và không có khủng hoảng.
Hiện tại, có nhiều yếu tố khiến nhà đầu tư tin rằng lợi nhuận kì vọng của chứng khoán sẽ giảm xuống trong 2008. Đầu tiên, lãi suất ngân hàng vừa qua tăng rất nhanh làm cho hình thức đầu tư cổ phiếu giảm nhanh sự hấp dẫn tương đối so với gửi tiền tiết kiệm.
Hai là, lạm phát dự kiến tăng cao và có khả năng đẩy nền kinh tế vào tình trạng suy thoái sẽ ảnh hưởng đến tất cả các doanh nghiệp trên sàn (giá vốn tăng do lãi suất tăng, giá đầu vào tăng do giá nguyên/nhiên liệu tăng, giá trị thực của lợi nhuận giảm vì lạm phát, sức mua của người tiêu dùng giảm do thu nhập giảm v.v.).
Ba là, nhiều doanh nghiệp trên sàn sau khi thu hút được số vốn khổng lồ từ TTCK đã đầu tư tràn lan vào bất động sản. Một khi thị trường nhà đất đóng băng (hệ quả của thu hẹp tín dụng) thì giá trị của các doanh nghiệp đó cũng tụt giảm.
Nếu Vnindex sụt giảm vì ba nguyên nhân trên, thì đó là cân bằng tất yếu của thị trường để phản ánh giá trị thực của các doanh nghiệp trên sàn, và việc cưỡng lại sự xuống dốc sẽ vô cùng tốn kém và không hiệu quả.
Thanh khoản và TTCK
Người viết bài này cho rằng, hiện tại, nếu VNindex xuống thấp hơn giá trị thực, thì chỉ có một nguyên nhân là: sự thiếu hụt thanh khoản cho các nhà đầu tư đã ngăn cản TTCK điều chỉnh về mức cân bằng.
Từ cuối 2007, chủ trương của NHNN siết tỉ lệ cho vay chứng khoán đã chặn đứng, thậm chí đảo chiều, dòng vốn đang đổ vào TTCK, (vì đa số các ngân hàng thương mại đã cho vay quá tỉ lệ). Tình trạng thiếu tiền mặt)của nhiều ngân hàng đầu năm 2008 đã khiến việc cho vay mới bị chững lại và lãi suất tăng vọt.
Cộng thêm việc tỉ giá bị neo chặt, các ngân hàng không thể đổi USD cho các nhà đầu tư nước ngoài. Kết quả là đa số các nhà đầu tư đều thiếu thanh khoản, người đang nắm thì muốn bán để có tiền mặt, người mua thì lại không có tiền mặt để mua, khiến giá chứng khoán giảm mạnh.
Điều này tương tự như kết luận của nhà kinh tế trọng tiền Milton Friedman rút ra từ cuộc Đại khủng hoảng 29-33 ở Mỹ: việc thắt chặt tiền tệ quá nhanh sẽ làm sụp đổ TTCK và gây ra khủng hoảng kinh tế.
Lợi và hại của bàn tay hữu hình SCIC
Trong các nền kinh tế phát triển, rất ít khi chính quyền can thiệp trực tiếp vào TTCK bằng cách mua cổ phiếu của doanh nghiệp trên sàn, trừ trường hợp nó có khả năng gây ra sụp đổ hệ thống tài chính-ngân hàng (như trường hợp Anh quốc hữu hoá ngân hàng Northern Rock).
Việc SCIC mua cổ phiếu trên TTCK có thể giải quyết vấn đề tâm lý ngắn hạn cho một số nhà đầu tư.
Nhưng nó sẽ không thể có ảnh hưởng tích cực lâu dài hay căn bản lên TTCK: Nó không hề tác động đến cái động cơ vận hành của TTCK là lợi nhuận kì vọng, bởi vì nó không làm thay đổi kì vọng về các kênh đầu tư khác như gửi tiết kiệm, mua vàng (là kết quả của chính sách tiền tệ).
Nó cũng không hề thay đổi nguồn vốn hay khả năng sinh lợi của các doanh nghiệp trên sàn (vì chỉ tác động đến thị trường thứ cấp). Cuối cùng, nó cũng không giải quyết được vấn đề thanh khoản của nhà đầu tư.
Lợi ích thì không rõ ràng, nhưng những hệ luỵ của việc Chính phủ can thiệp trực tiếp vào TTCK là nghiêm trọng và lâu dài:
Một là, việc nhà nước can thiệp vào TTCK sẽ bóp méo tín hiệu của thị trường vốn. SCIC sẽ dùng tiêu chí nào để xác định là chứng khoán đang ở dưới giá trị thực, trong khi giá thị trường chính là cái đáng lẽ phải phản ánh giá trị thực của chứng khoán?
Làm sao một doanh nghiệp không có động cơ tối đa hoá lợi nhuận (thua về cả khả năng tính toán so với hàng triệu nhà đầu tư cả tổ chức và cá nhân, lẫn tính năng động tìm kiếm cơ hội) có thể thông minh hơn thị trường về giá trị thực của nó?
Với sự tham gia của các quan chức cao cấp của Chính phủ (gồm cả bộ trưởng Bộ Tài chính, thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư và thứ trưởng Bộ Công thương) vào Hội đồng Quản trị của SCIC, trong trường hợp doanh nghiệp quốc doanh này gặp bê bối về mua bán cổ phiếu, uy tín của chính phủ sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
Hai là, nếu diễn biến xấu trên TTCK kéo dài, việc mua cổ phiếu của SCIC có thể dẫn đến bội chi ngân sách và trầm trọng thêm vấn đề lạm phát.
Lí do là để “cứu” khẩn cấp TTCK, thì SCIC phải bơm vào một lượng tiền rất lớn trong thời gian rất ngắn. Tổng giá trị thị trường (market capitalization) vào cuối 2007 đã lên tới khoảng 500 nghìn tỉ đồng (tuy đã mất đi khoảng một phần ba trong hai tháng qua).
Tuy phản ứng ban đầu của TTCK trước cam kết “bảo kê” của SCIC là khá tích cực, kì vọng này sẽ còn thay đổi. Liệu SCIC có đủ tiền và có nên bỏ ra hàng chục nghìn tỉ đồng trong vài ngày hay vài tuần để “cứu” thị trường trong lúc chính Bộ Tài chính cũng đang thiếu tiền mặt để chi tiêu? SCIC hay Bộ Tài chính sẽ lấy tiền mặt với số lượng như thế ở đâu mà không làm khủng hoảng thanh khoản thêm trầm trọng, hay in thêm tiền để làm tăng lạm phát?
Ba là, dù có bịt được việc “xả hàng” của một số tổ chức đầu tư, thì việc SCIC giành lại quyền sở hữu một khối lượng lớn cổ phiếu sẽ đảo ngược quá trình cổ phần hoá (giao vốn vào khu vực tư năng động hơn).
Việc này đồng thời làm chậm lại quá trình IPO vốn đã nhỏ giọt: SCIC sở hữu càng nhiều thì nó càng muốn tiến trình cổ phần hoá chậm lại để không làm “lụt” thị trường (đúng hơn là cạn kiệt thanh khoản).
Lợi bất cập hại
Việc SCIC có quyền quá rộng trong việc mua cổ phiếu cũng tạo ra một khoảng trống cho sự thiên vị của SCIC với một số công ty nhất định. Nguy cơ này càng lớn khi SCIC được phép giữ bí mật về danh mục các cổ phiếu được mua, số lượng tiền bỏ ra để mua, thời gian mua v.v.
Từ đây, giá cổ phiếu thay vì phản ánh khả năng sinh lợi của doanh nghiệp, lại phản ánh doanh nghiệp nào được chính quyền “ưu ái” bảo kê (bail out) mỗi khi gặp khó khăn. (Điều này đã từng xảy ra với các doanh nghiệp cánh hẩu của nhà độc tài Suharto trên thị trường chứng khoán của Indonesia).
Các doanh nghiệp được “bảo kê” sẽ càng tự do hơn trong các khoản đầu tư của mình, vì biết “tội vạ đâu đã có SCIC gánh đỡ”.
Năm là, việc can thiệp vào TTCK sẽ khiến các nhà đầu tư trong và ngoài nước về quan niệm thị trường của Chính phủ.
Nếu như TTCK, nơi thông tin đầy đủ nhất, người mua bán hiểu biết và linh hoạt nhất mà còn cần điều khiển, thì tất cả các thị trường khác đều cần có sự can thiệp vào giá của nhà nước! Hành động mà các nước phát triển coi như một cấm kị này có thể được diễn giải là một bằng chứng rằng Việt Nam chưa phải là một nền kinh tế thị trường.
Và điều này chắc chắn sẽ ảnh hưởng bất lợi cho Việt Nam trong các vụ kiện bán phá giá, vốn đang là rào chắn ghê gớm cho việc thâm nhập các thị trường phát triển.
Cuối cùng, việc SCIC -được Chính phủ tài trợ vốn- mua cổ phiếu để “cứu” thị trường, thực chất là dùng tiền đóng thuế của dân để “bảo hiểm rủi ro” cho một nhóm nhỏ nhà đầu tư giàu có, chủ yếu là các quỹ đầu tư nước ngoài và các “đại gia” trong nước.
Điều này nếu kéo dài có thể gây nên mối bất bình về tính chất bình đẳng trong chính sách kinh tế của Chính phủ.
Giá đắt?
VNindex tụt xuống mức 600 điểm là một cuộc sụp đổ (crash) của TTCK, nhưng mức sụt giảm là tự nhiên và đúng quy luật, trong tình trạng lạm phát tăng và lãi suất tăng. Muốn VNindex tăng, thì cách lâu dài và căn bản nhất là ngăn chặn lạm phát, xì hơi bong bóng nhà đất và hạ nhiệt nền kinh tế từ từ.
Việc SCIC can thiệp vào TTCK ít khả thi, có thể phải trả giá đắt về chính sách vĩ mô, trong khi lợi ích của nó nếu có chỉ là ngắn hạn.
Nếu có lí do để tin rằng VNindex thấp hơn giá trị thực, thì việc nhà nước nên làm trong ngắn hạn chỉ là giải quyết bài toán thanh khoản.
Trong bốn tháng ấy, đã có sức ép ghê gớm từ nhiều bên có lợi ích liên quan đòi hỏi chính phủ phải can thiệp “cứu” TTCK, bằng cách “giảm cung” (thông qua việc hoãn tiến độ IPO các doanh nghiệp nhà nước), và mới đây là “tăng cầu” (thông qua việc cho Tổng công ty Quản lí vốn Nhà nước SCIC mua lại cổ phiếu trên thị trường).
Những sức ép này đang thắng thế (IPO của nhiều doanh nghiệp lớn đã bị trì hoãn), và mới đây Thủ tướng đã ra Quyết định 319/TTg mở đường cho SCIC mua cổ phiếu để “kích cầu”.
Cái gọi là “giải pháp hạn chế cung” dù đã áp dụng vẫn không ngăn được VNindex sụp đổ, đơn giản là vì quy luật cung cầu không tồn tại trong TTCK (xem bài “Quan niệm sai về chứng khoán”).
TTCK chỉ có một quy luật vận hành là cân bằng “lợi nhuận kì vọng”: Khi lợi nhuận kì vọng của cổ phiếu giảm so với trước hoặc so với các hình thức đầu tư khác (mua vàng, đầu cơ bất động sản, gửi tiết kiệm) thì giá của từng cổ phiếu giảm và ngược lại.
Giá của mỗi cổ phiếu chỉ được quy định bởi chênh lệch giữa mức sinh lợi của doanh nghiệp đó với mức sinh lợi của hình thức đầu tư khác có mức sinh lợi cao nhất.
Vì thế, nếu không bị hạn chế về thanh khoản, thì việc hoãn lên sàn các doanh nghiệp mới như đề nghị của trường phái “cung cầu chứng khoán” không thể tác động đến giá cổ phiếu của các doanh nghiệp hiện tại.
Sụp đổ hợp lý
Gần đây, một số nhà đầu tư (chẳng hạn, ngân hàng HSBC) cho rằng giá cổ phiếu đã ở mức hợp lý so với các nước cùng trình độ (P/E trên toàn thị trường là 13).
Nhưng việc so sánh P/E của VN với các nước chỉ có ý nghĩa khi lãi suất ổn định ở mức thấp và không có khủng hoảng.
Hiện tại, có nhiều yếu tố khiến nhà đầu tư tin rằng lợi nhuận kì vọng của chứng khoán sẽ giảm xuống trong 2008. Đầu tiên, lãi suất ngân hàng vừa qua tăng rất nhanh làm cho hình thức đầu tư cổ phiếu giảm nhanh sự hấp dẫn tương đối so với gửi tiền tiết kiệm.
Hai là, lạm phát dự kiến tăng cao và có khả năng đẩy nền kinh tế vào tình trạng suy thoái sẽ ảnh hưởng đến tất cả các doanh nghiệp trên sàn (giá vốn tăng do lãi suất tăng, giá đầu vào tăng do giá nguyên/nhiên liệu tăng, giá trị thực của lợi nhuận giảm vì lạm phát, sức mua của người tiêu dùng giảm do thu nhập giảm v.v.).
Ba là, nhiều doanh nghiệp trên sàn sau khi thu hút được số vốn khổng lồ từ TTCK đã đầu tư tràn lan vào bất động sản. Một khi thị trường nhà đất đóng băng (hệ quả của thu hẹp tín dụng) thì giá trị của các doanh nghiệp đó cũng tụt giảm.
Nếu Vnindex sụt giảm vì ba nguyên nhân trên, thì đó là cân bằng tất yếu của thị trường để phản ánh giá trị thực của các doanh nghiệp trên sàn, và việc cưỡng lại sự xuống dốc sẽ vô cùng tốn kém và không hiệu quả.
Thanh khoản và TTCK
Người viết bài này cho rằng, hiện tại, nếu VNindex xuống thấp hơn giá trị thực, thì chỉ có một nguyên nhân là: sự thiếu hụt thanh khoản cho các nhà đầu tư đã ngăn cản TTCK điều chỉnh về mức cân bằng.
Từ cuối 2007, chủ trương của NHNN siết tỉ lệ cho vay chứng khoán đã chặn đứng, thậm chí đảo chiều, dòng vốn đang đổ vào TTCK, (vì đa số các ngân hàng thương mại đã cho vay quá tỉ lệ). Tình trạng thiếu tiền mặt)của nhiều ngân hàng đầu năm 2008 đã khiến việc cho vay mới bị chững lại và lãi suất tăng vọt.
Cộng thêm việc tỉ giá bị neo chặt, các ngân hàng không thể đổi USD cho các nhà đầu tư nước ngoài. Kết quả là đa số các nhà đầu tư đều thiếu thanh khoản, người đang nắm thì muốn bán để có tiền mặt, người mua thì lại không có tiền mặt để mua, khiến giá chứng khoán giảm mạnh.
Điều này tương tự như kết luận của nhà kinh tế trọng tiền Milton Friedman rút ra từ cuộc Đại khủng hoảng 29-33 ở Mỹ: việc thắt chặt tiền tệ quá nhanh sẽ làm sụp đổ TTCK và gây ra khủng hoảng kinh tế.
Lợi và hại của bàn tay hữu hình SCIC
Trong các nền kinh tế phát triển, rất ít khi chính quyền can thiệp trực tiếp vào TTCK bằng cách mua cổ phiếu của doanh nghiệp trên sàn, trừ trường hợp nó có khả năng gây ra sụp đổ hệ thống tài chính-ngân hàng (như trường hợp Anh quốc hữu hoá ngân hàng Northern Rock).
Việc SCIC mua cổ phiếu trên TTCK có thể giải quyết vấn đề tâm lý ngắn hạn cho một số nhà đầu tư.
Nhưng nó sẽ không thể có ảnh hưởng tích cực lâu dài hay căn bản lên TTCK: Nó không hề tác động đến cái động cơ vận hành của TTCK là lợi nhuận kì vọng, bởi vì nó không làm thay đổi kì vọng về các kênh đầu tư khác như gửi tiết kiệm, mua vàng (là kết quả của chính sách tiền tệ).
Nó cũng không hề thay đổi nguồn vốn hay khả năng sinh lợi của các doanh nghiệp trên sàn (vì chỉ tác động đến thị trường thứ cấp). Cuối cùng, nó cũng không giải quyết được vấn đề thanh khoản của nhà đầu tư.
Lợi ích thì không rõ ràng, nhưng những hệ luỵ của việc Chính phủ can thiệp trực tiếp vào TTCK là nghiêm trọng và lâu dài:
Một là, việc nhà nước can thiệp vào TTCK sẽ bóp méo tín hiệu của thị trường vốn. SCIC sẽ dùng tiêu chí nào để xác định là chứng khoán đang ở dưới giá trị thực, trong khi giá thị trường chính là cái đáng lẽ phải phản ánh giá trị thực của chứng khoán?
Làm sao một doanh nghiệp không có động cơ tối đa hoá lợi nhuận (thua về cả khả năng tính toán so với hàng triệu nhà đầu tư cả tổ chức và cá nhân, lẫn tính năng động tìm kiếm cơ hội) có thể thông minh hơn thị trường về giá trị thực của nó?
Với sự tham gia của các quan chức cao cấp của Chính phủ (gồm cả bộ trưởng Bộ Tài chính, thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư và thứ trưởng Bộ Công thương) vào Hội đồng Quản trị của SCIC, trong trường hợp doanh nghiệp quốc doanh này gặp bê bối về mua bán cổ phiếu, uy tín của chính phủ sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
Hai là, nếu diễn biến xấu trên TTCK kéo dài, việc mua cổ phiếu của SCIC có thể dẫn đến bội chi ngân sách và trầm trọng thêm vấn đề lạm phát.
Lí do là để “cứu” khẩn cấp TTCK, thì SCIC phải bơm vào một lượng tiền rất lớn trong thời gian rất ngắn. Tổng giá trị thị trường (market capitalization) vào cuối 2007 đã lên tới khoảng 500 nghìn tỉ đồng (tuy đã mất đi khoảng một phần ba trong hai tháng qua).
Tuy phản ứng ban đầu của TTCK trước cam kết “bảo kê” của SCIC là khá tích cực, kì vọng này sẽ còn thay đổi. Liệu SCIC có đủ tiền và có nên bỏ ra hàng chục nghìn tỉ đồng trong vài ngày hay vài tuần để “cứu” thị trường trong lúc chính Bộ Tài chính cũng đang thiếu tiền mặt để chi tiêu? SCIC hay Bộ Tài chính sẽ lấy tiền mặt với số lượng như thế ở đâu mà không làm khủng hoảng thanh khoản thêm trầm trọng, hay in thêm tiền để làm tăng lạm phát?
Ba là, dù có bịt được việc “xả hàng” của một số tổ chức đầu tư, thì việc SCIC giành lại quyền sở hữu một khối lượng lớn cổ phiếu sẽ đảo ngược quá trình cổ phần hoá (giao vốn vào khu vực tư năng động hơn).
Việc này đồng thời làm chậm lại quá trình IPO vốn đã nhỏ giọt: SCIC sở hữu càng nhiều thì nó càng muốn tiến trình cổ phần hoá chậm lại để không làm “lụt” thị trường (đúng hơn là cạn kiệt thanh khoản).
Lợi bất cập hại
Việc SCIC có quyền quá rộng trong việc mua cổ phiếu cũng tạo ra một khoảng trống cho sự thiên vị của SCIC với một số công ty nhất định. Nguy cơ này càng lớn khi SCIC được phép giữ bí mật về danh mục các cổ phiếu được mua, số lượng tiền bỏ ra để mua, thời gian mua v.v.
Từ đây, giá cổ phiếu thay vì phản ánh khả năng sinh lợi của doanh nghiệp, lại phản ánh doanh nghiệp nào được chính quyền “ưu ái” bảo kê (bail out) mỗi khi gặp khó khăn. (Điều này đã từng xảy ra với các doanh nghiệp cánh hẩu của nhà độc tài Suharto trên thị trường chứng khoán của Indonesia).
Các doanh nghiệp được “bảo kê” sẽ càng tự do hơn trong các khoản đầu tư của mình, vì biết “tội vạ đâu đã có SCIC gánh đỡ”.
Năm là, việc can thiệp vào TTCK sẽ khiến các nhà đầu tư trong và ngoài nước về quan niệm thị trường của Chính phủ.
Nếu như TTCK, nơi thông tin đầy đủ nhất, người mua bán hiểu biết và linh hoạt nhất mà còn cần điều khiển, thì tất cả các thị trường khác đều cần có sự can thiệp vào giá của nhà nước! Hành động mà các nước phát triển coi như một cấm kị này có thể được diễn giải là một bằng chứng rằng Việt Nam chưa phải là một nền kinh tế thị trường.
Và điều này chắc chắn sẽ ảnh hưởng bất lợi cho Việt Nam trong các vụ kiện bán phá giá, vốn đang là rào chắn ghê gớm cho việc thâm nhập các thị trường phát triển.
Cuối cùng, việc SCIC -được Chính phủ tài trợ vốn- mua cổ phiếu để “cứu” thị trường, thực chất là dùng tiền đóng thuế của dân để “bảo hiểm rủi ro” cho một nhóm nhỏ nhà đầu tư giàu có, chủ yếu là các quỹ đầu tư nước ngoài và các “đại gia” trong nước.
Điều này nếu kéo dài có thể gây nên mối bất bình về tính chất bình đẳng trong chính sách kinh tế của Chính phủ.
Giá đắt?
VNindex tụt xuống mức 600 điểm là một cuộc sụp đổ (crash) của TTCK, nhưng mức sụt giảm là tự nhiên và đúng quy luật, trong tình trạng lạm phát tăng và lãi suất tăng. Muốn VNindex tăng, thì cách lâu dài và căn bản nhất là ngăn chặn lạm phát, xì hơi bong bóng nhà đất và hạ nhiệt nền kinh tế từ từ.
Việc SCIC can thiệp vào TTCK ít khả thi, có thể phải trả giá đắt về chính sách vĩ mô, trong khi lợi ích của nó nếu có chỉ là ngắn hạn.
Nếu có lí do để tin rằng VNindex thấp hơn giá trị thực, thì việc nhà nước nên làm trong ngắn hạn chỉ là giải quyết bài toán thanh khoản.
Việt Nam cận kề khủng hoảng kinh tế ?
Một nhóm chuyên viên kinh tế, chuyên nghiên cứu kinh tế Châu Á của Ðại Học Harvard vừa công bố một số nhận định về kinh tế Việt Nam. Theo đó, kinh tế Việt Nam đang tiềm ẩn nguy cơ bất ổn, chủ yếu do những yếu tố nội tại bên cạnh những tác động do kinh tế toàn cầu suy giảm.
Theo nhóm này, nguyên nhân chính dẫn tới lạm phát là vì kinh tế Việt Nam vốn kém hiệu quả song phải hấp thụ một lượng vốn quá lớn. Trong năm 2007, tổng lượng vốn từ bên ngoài chảy vào Việt Nam khoảng 22-23 tỉ USD, tương đương 30% GDP. Nguồn cung ứng tiền, tín dụng và đầu tư tăng vọt, phần lớn được dành cho các doanh nghiệp nhà nước nhưng hoạt động của các doanh nghiệp này lại không hiệu quả. Các chuyên viên kinh tế giải thích: “Lượng tiền đổ vào quá nhiều nhưng không được sử dụng hiệu quả để tạo ra hàng hóa và dịch vụ nên dẫn đến tình trạng ‘quá nhiều tiền nhưng quá ít hàng’. Trong ba năm từ 2005-2007, nguồn cung ứng tiền tăng 135% nhưng GDP chỉ tăng 27%”.
Chính phủ Việt Nam từng phê duyệt một danh sách các dự án đầu tư công cộng, theo đó, từ nay đến năm 2015 sẽ sử dụng 70 tỉ USD song đa số các dự án này cũng không hiệu quả và chúng góp phần tạo ra lạm phát. Các chuyên gia kinh tế nước ngoài khuyến cáo chính phủ Việt Nam phải kiểm soát thật cẩn thận những chương trình đầu tư công cộng hiện đại, danh mục ưu tiên đầu tư cần căn cứ vào hiệu quả kinh tế chứ không nên nhắm vào mục tiêu chính trị. Chính phủ Việt Nam cũng được khuyến cáo rằng nên cắt giảm các khoản vay thương mại quốc tế của khu vực nhà nước. Thực hiện hoạt động thẩm định và kiểm toán đầu tư độc lập, sau đó công khai hóa các thông tin về thẩm định và kiểm toán này.
Mức thâm hụt hiện nay của Việt Nam được xác định là đáng báo động. Thâm hụt ngân sách hiện là 5.8% GDP, trong khi theo kinh nghiệm quốc tế, thâm hụt 3% đã đáng lo ngại. Thâm hụt thương mại ước chừng 12 tỉ USD, tức khoảng 16% GDP trong khi đối với quốc tế, mức 5%-10% đã là đáng lo.
Nhóm nghiên cứu khuyến cáo chính phủ Việt Nam cần kiềm chế lạm phát, giảm thâm hụt ngân sách và thương mại, giảm tốc độ tăng trưởng nguồn cung tiền và tín dụng thông qua những chính sách được phối hợp nhất quán và nhịp nhàng, “giảm sốc” cho nền kinh tế.
Cũng theo các chuyên gia kinh tế nước ngoài, giá nhà, đất ở một số đô thị tại Việt Nam tăng không phải do mức sống gia tăng mà là vì nguồn tiền trong nền kinh tế quá dồi dào, lợi nhuận từ đầu cơ đất đai lại hấp dẫn hơn các hoạt động đầu tư sản xuất khác. Cũng vì vậy, lĩnh vực này đang tiềm ẩn nhiều nguy cơ đe dọa nền kinh tế. Khi các doanh nghiệp Việt Nam thi nhau chuyển nguồn lực kinh doanh sang lĩnh vực bất động sản, năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực kinh doanh nòng cốt của những doanh nghiệp này sẽ giảm. Những ngân hàng thương mại đã cho vay để đầu tư vào thị trường bất động sản có thể phá sản khi “bong bóng” quá căng và vỡ. Nhóm này viết: “Hiện nay, có một thực tế hết sức đáng lo là hầu như không ai biết một cách chính xác về qui mô của những khoản vay đang sử dụng đất làm vật thế chấp”.
Có lẽ cần nhắc thêm rằng, theo tờ Tuổi Trẻ ra ngày 21 tháng 2, ông Hồ Hữu Hạnh, giám đốc chi nhánh Sài Gòn của Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam cho biết, thị trường bất động sản ở thành phố này đã nhận khoảng 35,000 tỷ, tương đương khoảng 10% tổng dư nợ, của hệ thống ngân hàng trên địa bàn.
Các chuyên gia kinh tế nước ngoài nhận định: “Hệ thống quản lý kinh tế của Việt Nam chưa tương thích với nền kinh tế hội nhập toàn cầu. Các bộ và cơ quan ngang bộ có trách nhiệm hoạch định chính sách vĩ mô là Bộ Tài Chính, Bộ Kế Hoạch-Ðầu Tư và Ngân Hàng Nhà Nước chưa phối hợp hiệu quả”. Các cơ quan này bị nhận xét là “quá nhạy cảm trước sức ép chính trị và thiếu năng lực chuyên môn”.
Bộ Tài Chính được đánh giá là “chỉ quan tâm đến việc huy động và phân bổ vốn cho các dự án đã được phê duyệt song chỉ kiểm soát được một phần các khoản chi thường xuyên, không nắm được nhiều khoản chi dưới dạng đầu tư, không kiểm soát tốt ngân sách, tỉ lệ chi ngoài ngân sách rất cao”.
Ngân Hàng Nhà Nước được nhận định là “không được phép quyết định lượng cung tiền và cung tín dụng như các ngân hàng trung ương trên thế giới nên chỉ có trong tay một số công cụ chính sách hạn chế: tỉ lệ dự trữ bắt buộc và các quyết định mang tính hành chính nên không thật sự hữu hiệu khi kiểm soát lạm phát”.
Ðể có thể phản ứng tốt khi có khủng hoảng, nhóm nghiên cứu khuyến cáo nên tập trung quyền hoạch định chính sách vào tay một cơ quan duy nhất. “Cần xây dựng một cơ quan quản lý kinh tế cao cấp hoạt động tương tự như hội đồng phát triển kinh tế của Singapore, được giao nhiệm vụ điều phối chính sách vĩ mô và đảm bảo kỷ cương trong khu vực nhà nước. Cơ quan này sẽ báo cáo trực tiếp cho thủ tướng và phải được bảo vệ khỏi sự tác động của các nhóm đặc quyền, đặc lợi. Cơ quan này phải có thẩm quyền cao hơn các bộ, ban ngành, kể cả các tập đoàn kinh tế nhà nước”.
Theo nhóm này, nguyên nhân chính dẫn tới lạm phát là vì kinh tế Việt Nam vốn kém hiệu quả song phải hấp thụ một lượng vốn quá lớn. Trong năm 2007, tổng lượng vốn từ bên ngoài chảy vào Việt Nam khoảng 22-23 tỉ USD, tương đương 30% GDP. Nguồn cung ứng tiền, tín dụng và đầu tư tăng vọt, phần lớn được dành cho các doanh nghiệp nhà nước nhưng hoạt động của các doanh nghiệp này lại không hiệu quả. Các chuyên viên kinh tế giải thích: “Lượng tiền đổ vào quá nhiều nhưng không được sử dụng hiệu quả để tạo ra hàng hóa và dịch vụ nên dẫn đến tình trạng ‘quá nhiều tiền nhưng quá ít hàng’. Trong ba năm từ 2005-2007, nguồn cung ứng tiền tăng 135% nhưng GDP chỉ tăng 27%”.
Chính phủ Việt Nam từng phê duyệt một danh sách các dự án đầu tư công cộng, theo đó, từ nay đến năm 2015 sẽ sử dụng 70 tỉ USD song đa số các dự án này cũng không hiệu quả và chúng góp phần tạo ra lạm phát. Các chuyên gia kinh tế nước ngoài khuyến cáo chính phủ Việt Nam phải kiểm soát thật cẩn thận những chương trình đầu tư công cộng hiện đại, danh mục ưu tiên đầu tư cần căn cứ vào hiệu quả kinh tế chứ không nên nhắm vào mục tiêu chính trị. Chính phủ Việt Nam cũng được khuyến cáo rằng nên cắt giảm các khoản vay thương mại quốc tế của khu vực nhà nước. Thực hiện hoạt động thẩm định và kiểm toán đầu tư độc lập, sau đó công khai hóa các thông tin về thẩm định và kiểm toán này.
Mức thâm hụt hiện nay của Việt Nam được xác định là đáng báo động. Thâm hụt ngân sách hiện là 5.8% GDP, trong khi theo kinh nghiệm quốc tế, thâm hụt 3% đã đáng lo ngại. Thâm hụt thương mại ước chừng 12 tỉ USD, tức khoảng 16% GDP trong khi đối với quốc tế, mức 5%-10% đã là đáng lo.
Nhóm nghiên cứu khuyến cáo chính phủ Việt Nam cần kiềm chế lạm phát, giảm thâm hụt ngân sách và thương mại, giảm tốc độ tăng trưởng nguồn cung tiền và tín dụng thông qua những chính sách được phối hợp nhất quán và nhịp nhàng, “giảm sốc” cho nền kinh tế.
Cũng theo các chuyên gia kinh tế nước ngoài, giá nhà, đất ở một số đô thị tại Việt Nam tăng không phải do mức sống gia tăng mà là vì nguồn tiền trong nền kinh tế quá dồi dào, lợi nhuận từ đầu cơ đất đai lại hấp dẫn hơn các hoạt động đầu tư sản xuất khác. Cũng vì vậy, lĩnh vực này đang tiềm ẩn nhiều nguy cơ đe dọa nền kinh tế. Khi các doanh nghiệp Việt Nam thi nhau chuyển nguồn lực kinh doanh sang lĩnh vực bất động sản, năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực kinh doanh nòng cốt của những doanh nghiệp này sẽ giảm. Những ngân hàng thương mại đã cho vay để đầu tư vào thị trường bất động sản có thể phá sản khi “bong bóng” quá căng và vỡ. Nhóm này viết: “Hiện nay, có một thực tế hết sức đáng lo là hầu như không ai biết một cách chính xác về qui mô của những khoản vay đang sử dụng đất làm vật thế chấp”.
Có lẽ cần nhắc thêm rằng, theo tờ Tuổi Trẻ ra ngày 21 tháng 2, ông Hồ Hữu Hạnh, giám đốc chi nhánh Sài Gòn của Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam cho biết, thị trường bất động sản ở thành phố này đã nhận khoảng 35,000 tỷ, tương đương khoảng 10% tổng dư nợ, của hệ thống ngân hàng trên địa bàn.
Các chuyên gia kinh tế nước ngoài nhận định: “Hệ thống quản lý kinh tế của Việt Nam chưa tương thích với nền kinh tế hội nhập toàn cầu. Các bộ và cơ quan ngang bộ có trách nhiệm hoạch định chính sách vĩ mô là Bộ Tài Chính, Bộ Kế Hoạch-Ðầu Tư và Ngân Hàng Nhà Nước chưa phối hợp hiệu quả”. Các cơ quan này bị nhận xét là “quá nhạy cảm trước sức ép chính trị và thiếu năng lực chuyên môn”.
Bộ Tài Chính được đánh giá là “chỉ quan tâm đến việc huy động và phân bổ vốn cho các dự án đã được phê duyệt song chỉ kiểm soát được một phần các khoản chi thường xuyên, không nắm được nhiều khoản chi dưới dạng đầu tư, không kiểm soát tốt ngân sách, tỉ lệ chi ngoài ngân sách rất cao”.
Ngân Hàng Nhà Nước được nhận định là “không được phép quyết định lượng cung tiền và cung tín dụng như các ngân hàng trung ương trên thế giới nên chỉ có trong tay một số công cụ chính sách hạn chế: tỉ lệ dự trữ bắt buộc và các quyết định mang tính hành chính nên không thật sự hữu hiệu khi kiểm soát lạm phát”.
Ðể có thể phản ứng tốt khi có khủng hoảng, nhóm nghiên cứu khuyến cáo nên tập trung quyền hoạch định chính sách vào tay một cơ quan duy nhất. “Cần xây dựng một cơ quan quản lý kinh tế cao cấp hoạt động tương tự như hội đồng phát triển kinh tế của Singapore, được giao nhiệm vụ điều phối chính sách vĩ mô và đảm bảo kỷ cương trong khu vực nhà nước. Cơ quan này sẽ báo cáo trực tiếp cho thủ tướng và phải được bảo vệ khỏi sự tác động của các nhóm đặc quyền, đặc lợi. Cơ quan này phải có thẩm quyền cao hơn các bộ, ban ngành, kể cả các tập đoàn kinh tế nhà nước”.
Subscribe to:
Posts (Atom)