Thursday, June 2, 2011

Cổ tức cho cổ đông bằng tiền mặt

HỎI: Khi công ty niêm yết trả cổ tức cho cổ đông bằng tiền mặt, phần cổ tức này bị trừ thẳng vào mệnh giá của cổ phiếu niêm yết tại ngày chốt quyền thì cả nhà đầu tư và doanh nghiệp đều phải trích tiền của mình để trả cổ tức. Xin cho biết, phải chăng cả nhà đầu tư và doanh nghiệp đều bị thiệt hại?

ĐÁP: Theo quy định tại Điều 10 - Quyết định số 124/QĐ-SGDHCM ngày 9/10/2007 của SGDCK Tp. Hồ Chí Minh, giá tham chiếu của ngày giao dịch không hưởng cổ tức và các quyền kèm theo đều được tính bằng cách lấy giá đóng cửa phiên giao dịch gần nhất điều chỉnh theo giá trị cổ tức được nhận hoặc giá trị các quyền kèm theo. Ví dụ, giá khớp lệnh của cổ phiếu XYZ tại phiên khớp lệnh định kỳ xác định giá đóng cửa tại Sở GDCK Tp HCM vào ngày 21/8/2008 là 30.000 đồng/cổ phiếu; tỷ lệ cổ tức là 10% tính theo mệnh giá được 1000 đồng/cổ phiếu, thì giá tham chiếu cho phiên giao dịch ngày hôm sau (22/8) tức là ngày giao dịch không hưởng cổ tức là 30.000-1000 = 29.000 đồng/cổ phiếu.
 
             Trên cơ sở xác định đó, với ý kiến của bạn cho rằng, có hai lần mất tiền trong việc chi trả cổ tức: một lần là do nhà đầu tư phải tự bỏ tiền của mình ra từ giá trị thị trường của cổ phiếu để trả cổ tức cho mình và một lần do công ty niêm yết cũng phải bỏ tiền của mình ra để trả cho cổ đông. Ý kiến này là không chính xác vì những lý do sau:
             - Bản chất của cổ tức là được trích từ nguồn lợi nhuận ròng của doanh nghiệp và nguồn lợi nhuận này thuộc về cổ đông là những người góp vốn vào công ty (chưa tính tới yếu tố tái đầu tư, trích lập các loại quỹ, bù đắp lỗ và các khoản dự phòng khác). Vì vậy, nếu một phần lợi nhuận ròng được trích cho cổ đông có tên trong danh sách cổ đông vào ngày chốt sổ thì chính là việc công ty chi trả một phần lợi nhuận ròng sau thuế của doanh nghiệp cho cổ đông chứ không phải nhà đầu tư phải bỏ tiền túi của mình ra.
             - Mặt khác, theo quy định, thặng dư vốn do giá cả của cổ phiếu của công ty biến động trên thị trường không được tính vào lợi nhuận ròng của doanh nghiệp, giả sử bạn mua cổ phiếu vào ngày được hưởng cổ tức, ngày giao dịch hôm sau rơi vào ngày không hưởng cổ tức và giá cổ phiếu bị điều chỉnh giảm, thì điều đó cũng không có nghĩa là bạn đã mất tiền của chính mình từ giá thị trường của cổ phiếu để trả cổ tức cho mình, bởi vì nguồn chi trả cổ tức không xuất phát từ giá trị mua cổ phiếu của bạn.
             - Tại ngày giao dịch không hưởng quyền và sau đó, do tác động của việc chi trả cổ tức được cam kết dành cho cổ đông có tên vào ngày chốt sổ cổ đông, giá trị của công ty đương nhiên bị sụt giảm vì một phần lợi nhuận được trích ra thanh toán cổ tức. Tổng trị giá sụt giảm này chính bằng tổng trị giá cổ tức, và điều đó tương đương với việc sụt giảm giá thị trường trên mỗi đơn vị là một cổ phiếu sẽ bằng chính với lượng cổ tức trả cho mỗi cổ phiếu. Chính vì thế, tại ngày giao dịch không hưởng quyền, giá tham chiếu của cổ phiếu được điều chỉnh giảm đúng bằng trị giá cổ tức trên mỗi cổ phiếu so với giá đóng cửa phiên giao dịch trước đó

Bán khống (short sales) là gì?

Bán khống (short sales) là việc bán một chứng khoán mà người bán không sở hữu mà thay vào đó, người bán đi vay chứng khoán hoặc có đảm bảo chứng khoán có thể vay được để bán với mong muốn kiếm lợi nhuận bằng cách mua lại và trả lại chứng khoán đó khi giá chứng khoán giảm.
 
              Khi tiến hành mua lại, có hai trường hợp xảy ra:
 
             - Giá chứng khoán giảm: Nhà giao dịch đã mua lại được khối lượng chứng khoán đã vay để bán với giá thấp hơn giá đã bán và kiếm được lợi nhuận sau khi hoàn trả khối lượng chứng khoán đã bán trước đó.
 
              - Giá chứng khoán tăng: Nhà giao dịch bị lỗ vì phải mua lại chứng khoán với giá cao hơn để hoàn trả lại khối lượng chứng khoán đã vay để bán (tức nhà đầu tư đã vay và bán chứng khoán ở mức giá thấp trong khi phải mua lại để hoàn trả ở mức giá cao).
 
              Trong thực tế, việc bán khống không phải chỉ được thực hiện bởi chính người đi vay chứng khoán để bán khống (covered shorts), mà có nhiều trường hợp việc bán khống được thực hiện bởi những đối tượng khác mà người bán không hề biết về việc đi vay,bán và chuyển giao chứng khoán đã bán khống (naked shorts) trên tài khoản của mình. Trường hợp này có thể xảy ra từ sự lợi dụng kẽ hở của pháp luật về chứng khoán cũng như những khác biệt trong hệ thống giao dịch và đa phần được coi là bất hợp pháp.
 
              Hoạt động bán khống có thể có những lợi ích sau đây:
 
             - Giúp nhà đầu tư tạo lợi nhuận từ việc dự báo đúng giá chứng khoán giảm.
 
             - Giúp cho các nhà tạo lập thị trường có thể đáp ứng các nhu cầu mua của khách hàng đối với các chứng khoán mà nhà tạo lập thị trường hiện chưa sở hữu.
 
             - Khuyến khích giao dịch phòng ngừa rủi ro.
 
             Tuy vậy, với khả năng giao dịch bán khống không có đảm bảo như trên, những mặt hạn chế rõ nhất của hoạt động này là:
 
             - Gia tăng sức ép bán ra đối với chứng khoán, từ đó có thể gây hỗn loạn thị trường.
 
             - Ước đoán giảm giá có thể tạo cơ hội thao túng thị trường.
 
            Tại các nước, bán khống được điều chỉnh theo các quan điểm quản lý khác nhau:
 
             - Cho phép bán khống (ví dụ thị trường Mỹ, Nhật, Singapore): Các nước này cho rằng bán khống làm tăng tính thanh khoản và giúp định giá lại các cổ phiếu vốn đã bị đánh giá quá cao; đồng thời giúp phát triển các giao dịch phòng ngừa rủi ro và đầu cơ hưởng chênh lệch giá (tăng tính hấp dẫn). Mặt khác, những nước này cho rằng rào cản chi phí lớn (bao gồm chi phí chịu rủi ro lớn hoàn toàn có thể xảy ra nếu ước đoán giá giảm không xảy ra cộng với chi phí đi vay chứng khoán) sẽ khiến cho ý đồ thao túng thị trường không còn khả thi và vì thế không đáng lo ngại. Tuy nhiên, những nước áp dụng mô hình này thường không cho phép bán khống khi giao dịch chứng khoán trên thị trường có biểu hiện hỗn loạn.
 
            - Cấm bán khống hoặc cho phép có mức độ (ví dụ thị trường Úc, Hồng Kông): Các nước theo quan điểm này nhìn chung không cho phép giao dịch bán khống chứng khoán hoặc cho phép bán khống nhưng chỉ trong phạm vi các chứng khoán có tính thanh khoản cao và với một tỷ lệ bán khống hạn chế (ví dụ không quá 10%) so với khối lượng chứng khoán đang lưu hành, và không cho phép thực hiện bán khống trong thời gian đang tiến hành thủ tục thâu tóm doanh nghiệp.
 
           - Không có quy định cụ thể về bán khống (ví dụ thị trường chứng khoán Anh, Đức): Cơ quan quản lý thị trường không có quy định nào về hành vi bán khống, đồng nghĩa với việc không có hạn chế gì đối với việc bán khống cũng như không yêu cầu phải công bố thông tin về bán khống.
 
           Khác với nhóm quan điểm trên, mặc dù trên TTCK Việt Nam hiện nay chưa có quy định về nghiệp vụ bán khống, nhưng điều đó cũng không đồng nghĩa với việc cho phép thực hiện giao dịch bán khống. Để thực hiện việc bán khống đòi hỏi phải có những quy định chi tiết, cụ thể nhằm tránh những rủi ro cho thị trường

Các phương pháp chủ yếu sử dụng trong phân tích Báo cáo tài chính Doanh nghiệp

Trước hết, chúng ta cần hiểu trong phân tích cơ bản (fundamental analysis), để lựa chọn cổ phiếu, báo cáo tài chính doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng, là cơ sở thực tiễn để qua đó nhà đầu tư tìm ra giá trị hợp lý của doanh nghiệp.
 
            Hệ thống báo cáo tài chính của doanh nghiệp gồm: Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ và thuyết minh báo cáo tài chính. Đây là một tập hợp rất nhiều số liệu phản ánh tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, đầu tư và tài chính của doanh nghiệp. Để có thể tìm ra các tiêu chí tài chính quan trọng, trong phân tích người ta thường sử dụng nhiều phương pháp như: Phương pháp so sánh, phương pháp số chênh lệch, phương pháp thay thế liên hoàn, phương pháp liên hệ cân đối, phương pháp hồi quy, trong đó phương pháp so sánh được sử dụng phổ biến nhất.
 
            Phương pháp so sánh là phương pháp xem xét các chỉ tiêu phân tích bằng cách dựa trên việc so sánh số liệu với một chỉ tiêu cơ sở (chỉ tiêu gốc). Tiêu chuẩn để so sánh thường là: Chỉ tiêu kế hoạch của một kỳ kinh doanh, tình hình thực hiện các kỳ kinh doanh đã qua, chỉ tiêu các doanh nghiệp tiêu biểu cùng ngành. Điều kiện để so sánh là: Các chỉ tiêu so sánh phải phù hợp về yếu tố không gian, thời gian, cùng nội dung kinh tế, đơn vị đo lường, phương pháp tính toán. Phương pháp so sánh có hai hình thức: So sánh tuyệt đối và so sánh tương đối. So sánh tuyệt đối dựa trên hiệu số của hai chỉ tiêu so sánh là chỉ tiêu kỳ phân tích và chỉ tiêu cơ sở. So sánh tương đối là tỷ lệ (%) của chỉ tiêu kỳ phân tích so với chỉ tiêu gốc để thể hiện mức độ hoàn thành hoặc tỷ lệ của số chênh lệch tuyệt đối với chỉ tiêu gốc để nói lên tốc độ tăng trưởng.
            Thông thường trong khi phân tích báo cáo tài chính, chúng ta nên kết hợp cả hai hình thức so sánh tương đối và tuyệt đối. Sự kết hợp này sẽ bổ trợ cho nhau giúp chúng ta vừa có được những chỉ tiêu cụ thể về khối lượng và giá trị hoạt động của doanh nghiệp vừa thấy được tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp trong kỳ phân tích. Điều này sẽ giúp rất nhiều trong việc so sánh hoạt động của các doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành.

Giao dịch ký quỹ (Margin Trading) là gì?

Giao dịch ký quỹ (Margin Trading) là việc nhà đầu tư mua cổ phiếu có sử dụng hạn mức tín dụng do Công ty Chứng Khoán môi giới cấp. Nó được đảm bảo bằng khoản ứng trước bằng tiền hoặc thế chấp bằng chính cổ phiếu được mua.

Giao dịch ký quỹ chứng khoán, thông thường có hai vị thế chính. Đó là vị thế mua ký quỹ và bán ký quỹ.


  • Thứ nhất: Mua ký quỹ (Long position - Mua trước Bán sau) chứng khoán là hình thức nhà đầu tư mua chứng khoán bằng cách vay thêm tiền từ công ty chứng khoán. Và nhà đầu tư phải có nghĩa vụ hoàn trả số nợ và các khoản lãi vay, chi phí phát sinh khác từ hoạt động giao dịch theo ký kết trong hợp đồng.
  • Thứ hai: Bán ký quỹ (Short position - Bán trước Mua sau) là hình thức nhà đầu tư vay chứng khoán khoán từ chứng khoán của công ty chứng khoán để bán và nhà đầu tư phải có nghĩa vũ hoàn trả lại số chứng khoán đã vay của cônh ty chứng khoán cùng với các khoản phát sinh từ hợp đồng liên quan. Hiện TTCK Việt Nam chưa cho phép hình thức giao dịch này

Mỗi loại hình nghiệp vụ đều có những lợi ích và hạn chế nhất định. Việc thực hiện loại hình nghiệp vụ nào đều phải căn cứ chính vào xu thế thị trường để đưa ra quyết sách phù hợp.

  • Nếu xác định xu thế của thị trường là xu thế tăng, nhà đầu tư có thể gia tăng thêm phần lợi suất từ hoạt động mua ký quỹ. 
  • Nếu xác định xu thế của thị trường là xu hướng giảm thì nhà đầu tư có thể kiếm lợi từ việc vay chứng khoán bán giá cao và mua chứng khoán trả lại cho công ty chứng khoán với giá thấp hơn. 
Trường hợp xấu nhất, khi xu hướng giá chứng khoán không phù hợp với dự báo thì khoản lỗ sẽ phát sinh và lớn hơn so với giao dịch bình thường.

Thị trường chứng khoán Việt Nam với tuổi đời hơn 11 năm, thì giao dịch chủ yếu vẫn là giao dịch theo hình thức mua bán chứng khoán với 100% giá trị. Tuy nhiên, thông tư 74 của Bộ tài chính đã chính thức mở đường cho một loại hình nghiệp vụ mới là giao dịch mua ký quỹ vào họat động. Đây chỉ là một loại hình nghiệp vụ trong hai loại hình trên. Và quy chế hướng dẫn giao dịch ký quỹ chứng khoán (Quyết định số 637/QĐ-UBCKNN) chính thức ban hành ngày 30 tháng 08 năm 2011 sau hơn hai tháng chờ đợi. 
Để nhà đầu tư hình dung rõ hơn về loại hình, nghiệp vụ này, xin lược trích có lý giải vài vấn đề cần quan tâm.

Nhà đầu tư muốn thực hiện nghiệp vụ này phải mở một tài khoản giao dịch ký quỹ tại Công ty chứng khoán mà nhà đầu tư đã có tài khoản giao dịch thông thường trước đó. Lẽ đương nhiên, công ty chứng khoán nơi nhà đầu tư mở tải khoản phải được Ủy ban chứng khoán cấp phép cho hoạt động loại hình này sau khi đạt tất cả các tiêu chuẩn về loại hình này. Việc mở tài khoản giao dịch ký quỹ sẽ thông qua một hợp đồng giữa nhà đầu tư và công ty chứng khoán (như một hình thức tín dụng). Và điều cần lưu ý là sở hữu chứng khoán, và các quyền liên quan đến chứng khoán thuộc về nhà đầu tư, nhưng để bảo vệ cho chính công ty chứng khoán thì trong trường hợp giá chứng khoán giảm quá mức cho phép theo ký quỹ tối thiểu thì nếu nhà đầu tư không đảm bảo bổ sung tài sản theo yêu cầu thì Công ty chứng khoán có quyền bán giải chấp chứng khoán của khách hàng sau khi đã có thông báo chính thức cho nhà đầu tư.

Khi nhà đầu tư đã mở tài khoản giao dịch ký quỹ, để thực hiện nghiệp vụ này, nhà đầu tư phải đóng một giá trị ký quỹ ban đầu là 10.000.000 đồng, tức là nếu giá trị tổng tài sản của nhà đầu tư trong tài khoản ký quỹ dưới 10.000.000 đồng thì công ty chứng khoán sẽ không được phép cho nhà đầu tư vay tiền.
Nhà đầu tư sẽ được vay tiền mua chứng khoán với giá trị theo quy định tại công ty chứng khoán và không được cao hơn 40%. Tức là nhà đầu tư phải ký quỹ ban đầu không được thấp hơn 60%. Ví dụ, nhà đầu tư muốn mua chứng khoán với trị giá 100.000.000 đồng thì nhà đầu tư phải đóng vào ban đầu với số tiền tối thiểu là 60.000.000 đồng, 40 triệu đồng sẽ vay Công ty chứng khoán. 

Điều tuyệt vời nhất đối với loại hình nghiệp vụ này là khi hoàn tất mua chứng khoán, giá chứng khoán tăng. Giá chứng khoán càng tăng hoạt động này càng khuyếch đại cho nhà đầu tư một tỷ lớn tỷ suất sinh lời tùy theo đòn bẩy tài chính. Tuy nhiên, nếu chẳng may chứng khoán đó giảm giá, thì chẳng còn gì buồn hơn. Chứng khoán càng giảm nhà đầu tư càng lỗ nhiều, nhưng khi giá chứng khoán lỗ tới một mức vi phạm tỷ lệ ký quỹ duy trì thì nhà đầu tư sẽ nhận được lệnh gọi ký quỹ bổ sung từ Công ty chứng khoán. Việc bổ sung đó có thể bằng tiền, bằng thế chấp thêm chứng khoán. Và nếu như nghĩa vụ bổ sung của nhà đầu tư không đảm bảo, Công ty chứng khoán phải bán giải chấp chứng khoán của khách hàng tới mức đảm bảo duy trì tỷ lệ ký quỹ tối thiễu theo quy định là không được thấp hơn 40%. Trong năm 2012, đa số các công ty chứng khoán thực hiện mức tỷ lệ ký quỹ cảnh báo là 45% và tỷ lệ ký quỹ tối thiểu là 40%.

Để có thể hiểu rõ hơn về vấn đề này, chúng ta cần làm rõ các khái niệm sau.
  • Thứ nhất: Dư nợ ký quỹ của khách hàng trên tài khoản giao dịch ký quỹ là tổng số tiền khách hàng nợ công ty chứng khoán.
  • Thứ hai: Tài sản thực có của khách hàng trên tài khoản giao dịch ký quỹ bao gồm tiền mặt, giá trị chứng khoán được phép ký quỹ trên tài khoản giao dịch ký quỹ tính theo giá thị trường trừ đi dư nợ ký quỹ.
  • Thứ ba: Tỷ lệ ký quỹ là tỷ lệ giữa tài sản thực có so với tổng tài sản trên tài khoản giao dịch ký quỹ tính theo giá thị trường. 
Như vậy một tài khoản của khách hàng sẽ nhận cảnh báo ký quỹ khi tỷ lệ ký quỹ thấp hơn 40%.

Chúng ta sẽ hình dung qua ví dụ sau:
Một khách hàng mua chứng khoán SSI với số lượng 1000 cổ phiếu, giá mua 20.000 đồng tương ứng lượng tiền 20,000,000 đồng tại công ty chứng khoán AAA. Công ty chứng khoán AAA cho phép nhà đầu tư giao dịch ký quỹ cổ phiếu SSI với tỷ lệ ký quỹ ban đầu là 60% và tỷ lệ ký quỹ duy trì là 40%. Trong 20,000,000 đồng này, khách hàng được vay 40% (tương ứng 8,000,000 đồng) từ công ty chứng khoán.
Giả sử bỏ qua các loại phí, chi phí và lãi vay, tài khoản giao dịch của nhà đầu tư sẽ bị xử lý thế nào nếu giá chứng khoán ngày 31-08-2012 là 10.000 đồng.

Tại thời điểm ngày 31/08/2012. 

  • Giá trị thị trường của chứng khoán trong tài khoản ký quỹ của khách hàng là 1.000x10.000=10.000.000 đồng. 
  • Số dư nợ khách hàng với công ty chứng khoán là 8,000,000 đồng
  • Tài sản thực có của khách hàng lúc này còn 10.000.000 – 8.000.000=2.000.000 đồng. 
  • Tỷ lệ ký quỹ thực tế lúc này là 2.000.000/10.000000=20%. 

Tỷ lệ này thấp hơn tỷ lệ ký quỹ duy trì tối thiểu 40%. Khách hàng phải bổ sung thêm tiền cho công ty chứng khoán để đảm bảo tỷ lệ ký quỹ duy trì. 

Vậy số tiền cần phải bổ sung là bao nhiêu?
Khi nhà đầu tư đóng thêm tiền bổ sung, tức là nhà đầu tư đã trả bớt nợ cho công ty chứng khoán, tức thời số sư nợ đối với khách hàng giảm xuống. Gọi A là số tiền mặt cần bổ sung, như vậy tài sản thực có bây giờ của khách hàng là: 2.000.000 + A. Tổng tài sản trên tài khoản giao dịch ký quỹ tính theo giá thị trường là 10,000,000 đồng
  • Tỷ lệ ký quỷ thực tế là (2.000.000 + A )/10.000.000
  • Tỷ lệ này phải duy trì trên 40% , tức là (2.000.000 + A)/10.000.000 > 40%.
  • Như vậy thì số tiền cần phải bổ sung là A > 2.000.000 đồng. 
Nếu nhà đầu tư không bổ sung tài sản thế chấp thì công ty chứng khoán sẽ bán bớt số chứng khoán của khách hàng để đảm bảo duy trì tỷ lệ ký quỹ duy trì.

Vậy công ty chứng khoán sẽ bán bao nhiêu chứng khoán?
Gọi N là số chứng khoán bị bán đi, đương nhiên khi bán chứng khoán sẽ thu được một số tiền và số tiền này sẽ trả bớt nợ cho công ty chứng khoán. Nếu giá bán chứng khoán là 10.000 đồng thì số tiền thu về là 10.000xN đồng.
  • Dư nợ khách hàng là: 8.000.000 – 10.000N
  • Tài sản theo giá thị trường của khách hàng lúc này chỉ còn (1.000 – N)*10.000 đồng.
  • Tài sản thực có là: 2.000.000
  • Tỷ lệ ký quỹ thực tế là : 2.000.000/(1.000 – N)10.000 > 40% (tỷ lệ này phải đảm bảo duy trì trên 40%).
Giải bài toán bậc nhất một ẩn ta có: N > 500 cổ phiếu.
Việc tính toán tỷ lệ ký quỹ, công ty chứng khoán sẽ tính hàng ngày sau khi kết thúc giao dịch và báo cáo cho nhà đầu tư.

Chứng khoán được phép giao dịch mua ký quỹ là cổ phiếu và chứng chỉ quỹ đầu tư đáp ứng các điều kiện sau đây.

Thứ nhất: Đối với cổ phiếu
  • Đang được niêm yết tên Sở giao dịch và có thời gian niêm yết từ 6 tháng trở lên. Đối với cổ phiếu được chuyển sàn niêm yết, thời gian niêm yết sẽ là tổng thời gian niêm yết ở cả hai sàn giao dịch.
  • Có giá trị sổ sách lớn hơn mệnh giá, căn cứ theo báo cáo tài chính năm gần nhất và báo cáo tài chính quý gần nhất.
  • không thuộc diện cảnh báo, kiểm soát hoặc tạm ngưng giao dịch.
  • Là cổ phiếu của công ty niêm yết có thời gian thành lập và hoạt động tối thiểu 5 năm, tính cả thời gian trước khi chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi hình thức pháp lý và có vốn điều lệ tối thiểu là 20tỷ đồng. 
  • Công ty niêm yết không có lổ lũy kế tính đến cuôi năm hoạt động liền trước, tỷ lệ lợi nhuận trước thuế trên vốn chủ sở hữu tại thời điểm cuối năm liền trước tối thiểu là 3%.
  • Có tỷ lệ khối lượng giao dịch hàng tháng trên khối lượng niêm yết tối thiểu là 50% và có giá trị thị trường không dưới mệnh giá trong vòng 03 tháng liền trước thời điểm được lựa chọn để giao dịch mua ký quỹ

Thứ hai: Đối với chứng chỉ quỹ đầu tư
  • Đang niêm yết trên Sở giao dịch và có thời gian niêm yết từ 06 tháng trở lên.
  • Là chứng chỉ của Quỹ đầu tư phát hành từ 30 triệu chứng chỉ đầu tư cùng loại trở lên.
  • Có giá trị tài sản ròng tính trên một đơn vị chứng chỉ quỹ lớn hơn mệnh giá trong vòng 03 tháng liền tính đến thời điểm được lựa chọn để giao dịch mua ký quỹ.
  • Có tỷ lệ khối lượng giao dịch hàng tháng trên tổng khối lượng niêm yết tối thiểu là 50% trong vòng 03 tháng liền trước thời điểm được lựa chọn để giao dịch mua ký quỹ

Cổ phiếu bị hạn chế giao dịch mua ký quỹ
  • Công ty chứng khoán chỉ được phép cho vay giao dịch mua ký quỹ tối đa 5% tổng số cổ phiếu niêm yết do chính công ty phát hành; 
  • Công ty chứng khoán không được phép cho khách hàng vay tiền giao dịch mua ký quỹ đối với cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư do chính công ty bảo lãnh phát hành trong vòng ba (03) tháng tính từ khi hoàn tất đợt phát hành;
  • Công ty chứng khoán không được phép cho khách hàng vay tiền giao dịch mua ký quỹ đối với cổ phiếu của công ty sở hữu từ 50% trở lên vốn điều lệ của công ty chứng khoán.

Cách tính giá trị ký quỹ bổ sung:
Giá trị tài sản ký quỹ bổ sung = [(Tỷ lệ ký quỹ - Tỷ lệ ký quỹ duy trì)/Tỷ lệ ký quỹ duy trì]*Tổng giá trị tài sản ký quỹ tính theo giá hiện hạnh.


Tóm lại, thủ tục để thực hiện giao dịch ký quỹ như trên thông thường như sau:
  • Nhà đầu tư cần mở một tài khoản ký quỹ riêng.
  • Ký hợp đồng mở tài khoản ký quỹ.
  • Nhà đầu tư phải nộp vào tài khoản số tiền đặt cọc ban đầu, gọi là số dư ký quỹ tối thiểu (minimum margin).
  • Mỗi lần giao dịch ký quỹ, nhà đầu tư có thể vay tối đa 60% giá trị mua cổ phiếu. Số tiền 40% giá trị còn lại mà nhà đầu tư phải nộp vào tài khoản được gọi là ký quỹ ban đầu (initial margin).
  • Chứng khoán mua bằng tài khoản ký quỹ được gọi là chứng khoán thế chấp.
Xét về tổng thể, giao dịch ký quỹ có một số lợi ích nổi bật như:
             
           - Đối với nhà đầu tư: Có cơ hội để tăng lợi nhuận.
            
           - Đối với CtyCK: Tăng khối lượng giao dịch, tăng hoa hồng.
          
          - Đối với TTCK: Tăng tính thanh khoản, khuyến khích thêm nhiều nhà đầu tư và doanh nghiệp tham gia thị trường, tiến gần hơn tới TTCK thế giới.
             Tuy nhiên, trong ví dụ nêu trên, nếu cổ phiếu lên giá theo đúng dự đoán, nhà đầu tư sẽ thu được lợi nhuận dương. Ngược lại, nếu cổ phiếu đứng giá hoặc giảm giá thì nhà đầu tư sẽ bị thua lỗ (Trường hợp này lại phù hợp với kỳ vọng của những nhà đầu tư giao dịch bán khống - short sales). Nếu giá thị trường của cổ phiếu này sụt giảm càng mạnh thì khoản lỗ này của nhà đầu tư càng lớn. Ngoài ra, không phải tất cả các cổ phiếu đều có thể được giao dịch ký quỹ.
              Như vậy có thể thấy giao dịch ký quỹ có những ảnh hưởng tốt nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro đối với nhà đầu tư và làm tổn hại tới hoạt động của TTCK. Vì thế, cũng tương tự như giao dịch bán khống, giao dịch ký quỹ thường chỉ được các TTCK áp dụng khi đạt tới một trình độ phát triển nhất định.
  

Biến động của lãi suất trên thị trường tiền tệ và thị trường chứng khoán.

Biến động của lãi suất trên thị trường tiền tệ tuy có tác động gián tiếp nhưng rất nhạy cảm đến thị trường chứng khoán. Lãi suất tăng sẽ thu hút nhu cầu gửi tiền vào hệ thống ngân hàng vì mức sinh lời khi gửi tiền tăng, khiến cho dòng tiền đổ vào thị trường chứng khoán bị ảnh hưởng. Lãi suất tăng cũng khiến cho lợi suất kỳ vọng trên thị trường chứng khoán phải tăng (nhà đầu tư đòi hỏi lợi suất đầu tư chứng khoán cao hơn). Trong bối cảnh này, giá thị trường của trái phiếu sẽ bị sụt giảm.
 
           Mặt khác, lãi suất trong nước tăng cũng có tác dụng thu hút luồng ngoại tệ đổ vào, gián tiếp giúp đồng nội tệ tăng giá và do vậy tác động làm giảm tỷ giá hối đoái. Các doanh nghiệp xuất khẩu trong bối cảnh này sẽ gặp phải khó khăn do hàng hóa xuất khẩu bị đắt lên, đồng thời trước đó đã chịu thêm chi phí vốn vay do lãi suất tăng. Hệ quả là doanh thu của các doanh nghiệp này bị ảnh hưởng, dẫn đến kỳ vọng vào lợi nhuận tương lai của doanh nghiệp bị ảnh hưởng, làm giá cổ phiếu doanh nghiệp trên thị trường sa sút.
           
           Tuy nhiên, đối với nhóm doanh nghiệp phải nhập khẩu phần lớn nguyên vật liệu đầu vào cho sản xuất kinh doanh, thì bối cảnh trên lại là lợi thế cho họ. Tuy nhiên do ảnh hưởng của chi phí vốn vay tăng lên, phần lợi thế này có nguy cơ bị triệt tiêu.
 
           Trên cơ sở phân tích tác động của các loại lãi suất đối với nền kinh tế nói chung và với các nhóm doanh nghiệp nói riêng, nhà phân tích sẽ xác định được bối cảnh tích cực hay tiêu cực cho môi trường đầu tư cũng như khả năng doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp niêm yết.

Báo cáo tài chính doanh nghiệp ( 4 văn bản)

HỎI: Khi đọc Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của nhiều doanh nghiệp tôi thấy có lãi, trong khi doanh nghiệp không có tiền mặt để chi trả cổ tức. Xin giải thích cho tôi hiểu về vấn đề này?

            ĐÁP: Vấn đền bạn nêu đối với nhà đầu tư, đặc biệt là những người không có kiến thức chuyên ngành, nhiều khi rất khó hiểu. Theo quy định của Bộ Tài chính, báo cáo tài chính bao gồm:
      
            - Bảng cân đối kế toán (B01-DN),
    
            - Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (B02-DN),
      
            - Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (B03-DN) và
     
            - Thuyết minh báo cáo tài chính (B09-DN).
     
            Đây là một tập hợp đầy đủ các số liệu phản ánh tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong một kỳ kinh doanh. Trong 4 văn bản này, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ có vai trò rất quan trọng. Nó cung cấp cho chúng ta biết nguồn tiền của doanh nghiệp sinh ra từ đâu và sử dụng vào mục đích gì.
    
             Thông thường, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ phân chia luồng tiền vào ba hoạt động cơ bản: hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính. Trong ba hoạt động này, hoạt động sản xuất kinh doanh đóng vai trò quan trọng nhất bởi lẽ nó phản ánh luồng tiền chủ yếu của doanh nghiệp. Một điểm cần lưu ý là Báo cáo lưu chuyển tiền tệ thể hiện số liệu kết hợp giữa bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh. Có nghĩa là số liệu của Báo cáo lưu chuyển tiền tệ được xây dựng trên cơ sở số liệu của B01 và B02.
   
            Trong trường hợp thắc mắc của bạn, khi nhìn vào kết quả hoạt động kinh doanh chúng ta có thể thấy doanh nghiệp hoạt động kinh doanh tốt và có lãi. Tuy nhiên, khi nhìn vào báo cáo lưu chuyển tiền tệ, chúng ta thấy luồng tiền ròng lại âm. Nguyên nhân là do doanh nghiệp để vốn của mình ứ đọng trong hàng tồn kho quá nhiều, hoặc cũng có thể do doanh nghiệp cho vay quá nhiều mà không thu hồi được vốn.
              Đây là một điểm hết sức quan trọng khi phân tích cổ phiếu doanh nghiệp. Nếu lợi nhuận cuối kỳ không được thể hiện dưới dạng tiền mặt sẽ dẫn tới hiện tượng năng lực tài trợ cổ tức của doanh nghiệp yếu đi. Điều này sẽ tác động rất mạnh tới giá cổ phiếu. Đặc biệt với những doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa có uy tín lâu năm trên thị trường

Monday, March 21, 2011

Che giấu vì "xấu hổ với thất bại"?

Tác giả: T.S ALAN PHAN (CHỦ TỊCH QUỸ ĐẦU TƯ VIASA)

Trong khi DN Âu - Mỹ trực diện với thất bại, thì DN Á Đông lại thu dọn đồ đạc trong đêm rồi âm thầm bỏ trốn nếu gặp khó khăn mà không biết rằng thất bại chính là học phí quý báu để thành công.
"Không giặt đồ dơ trước công chúng"
Trong cuộc khủng hoảng năm 2008, nhiều nhà máy ở Thẩm Quyến (Trung Quốc) phải đóng cửa vì không đủ doanh thu hay đơn đặt hàng do sự suy thoái của mức độ tiêu thụ tại Âu, Mỹ hay Nhật Bản. Phần lớn các chủ nhân, dù người nước ngoài hay Trung Quốc, đều chọn giải pháp là thu dọn đồ đạc trong đêm rồi âm thầm bỏ trốn, thay vì phải đối diện với chủ nợ, nhân viên hay chính quyền. Hiện tượng này cũng khá phổ biến tại Việt Nam và các quốc gia Á Đông còn chịu ành hưởng bởi tập tục phong kiến xa xưa. So sánh với các doanh nghiệp tại các quốc gia Âu Mỹ, chủ nhân nơi đây thường công khai đem tài sản còn lại ra công chúng, hoặc giao cho tòa án, hoặc thương lượng với các chủ nợ về một giải pháp êm thấm hơn.
Nhiều doanh nhân Trung Quốc và Việt Nam sẽ biện bạch là cơ chế pháp lý nơi đây quá phức tạp, không minh bạch, nên khi phá sản, rất khó giải quyết đề thỏa mãn sự đòi hỏi của mọi phe nhóm liên quan. Lý do này cũng chứa một phần sự thực; nhưng phân tích kỹ, tôi nhận thấy yếu tố văn hóa xã hội có tầm ảnh hưởng quan trọng hơn. Vấn đề "sĩ diện" trong truyền thống hành xử và giao thiệp của người Á Đông, nhất là người Trung Quốc, đã là một đề tài có nhiều bàn luận nhất tại nhiều quốc gia Âu Mỹ.
Vì sĩ diện, doanh nhân Trung Quốc, kể cả những Hoa kiều, lao vào những dự án và công việc có tính cách phô trương, phiến diện, nhất thời; thay vì sáng tạo, bền vững và kín đáo. Họ thích được "nổi trội" hơn các đồng nghiệp và sự ca tụng của cộng đồng, bang họ, bạn bè, gia đình...là một động lực không thể thiếu trong sự tính tóan và điều hành công việc. Vì sĩ diện, họ sợ nhất là sự cười chê của cộng đồng khi thất bại. Rất nhiều doanh gia sẵn sàng bỏ xứ sở, gốc gác để biến mất vì xấu hổ. Do đó, việc che đậy những điều được coi là "xấu" trở nên một ưu tiên trong hoạt động kinh doanh.
Thái độ che giấu hay bộc lộ là sự khác biệt lớn nhất về văn hóa giữa Á Đông và Âu Mỹ trong hành xử thường nhật của cá nhân và phe nhóm. Lấy nghệ thuật hội họa chẳng hạn: trong khi tranh Á Đông hay thể hiện những nét đẹp tiềm ẩn, với góc nhìn tổng quan trong thiên nhiên và con người, thì tranh của Âu Mỹ tràn ngập những trường phái hiện thực, tả chân rõ ràng với những nét cạnh và chi tiết. Triết lý Khổng Lão chứa đựng nhiều ẩn dụ, mơ hồ và ví von. Các triết phái Tây Phương thì gay gắt với biện luận, tranh cãi và phản bác. Tục ngữ trong xử thế của Á Đông nhấn mạnh việc "không giặt đồ dơ trước công chúng", hay "tốt khoe, xấu che" hay "đừng vạch áo cho người xem lưng".
Đối với DN Á Đông, việc che đậy những điều được coi là "xấu" trở nên một ưu tiên trong hoạt động kinh doanh.
Đây là một thói quen tương phản, đối nghịch nhất với nguyên tắc "minh bạch" và "trung thực" của hệ thống tài chính thế giới. Nếu tất cả các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán ở Á Đông lấy lý do là vì tôn trọng văn hóa truyền thống phải "tốt khoe, xấu che" thì chúng ta sẽ chẳng có thị trường chứng khoán tại các nơi này. Ngay cả trong những công ty tư nhân, sự giấu diếm những tệ hại, sai lầm với khách hàng, với đối tác, với nhân viên...sẽ gây ra những nguy hiểm cho an toàn của sản phẩm, cho niềm tin vào thương hiệu, cho sự vững bền của hoạt động.
Suy nghĩ xa hơn, những cái "xấu" được che đậy thường không có một định nghĩa đồng nhất trong mọi góc nhìn. Nếu dùng căn bản sâu rộng về đạo đức cá nhân hay chuẩn mực đa dạng của tư duy xã hội, thì cái "xấu" ngày hôm nay có thể dễ dàng thay đổi thành cái "tốt" ngày mai; và ngược lại. Một ví dụ điển hình là sự "thất bại" trên thương trường. Qua thời kỳ dạy học, tôi biết rất nhiều sinh viên trẻ ở Á Đông vì sợ "thất bại", bị cười chê và mang tiếng "xấu" suốt đời, nên không bao giờ dám dấn thân làm ăn. Trong khi đó, tư duy khoảng đạt, chấp nhận dễ dàng chuyện "thất bại" của xã hội Mỹ là một trong những nguyên nhân tạo nên sự đột phá kỳ diệu của nền kinh tế này.
Thất bại là "học phí"
"Tôi thấy ở đây, người dân không xấu hổ vì ăn cắp hay nói dối; mà lại xấu hổ vì thất bại hay nghèo khó. Nó đi ngược với tất cả tư duy và chuẩn mực về đạo đức mà tôi đã được dạy dỗ từ bé."
Tôi có thể đi xa hơn mà nhận xét rằng "thất bại" là một điều đáng khen ngợi, ngay cả hãnh diện. Nó nói lên lòng can đảm của con người dám làm, nó biểu hiện sự kiên nhẫn của tinh thần phấn đấu, và nó sẽ là một bài học vô cùng quý giá hơn cả mọi bài giảng trong lớp học hay trên những trang sách khô khan. Khi tôi đi tập sự ở Wall Street vào thập niên 70's, một giao dịch viên trên sàn giao dịch của Merrill Lynch quyết định hấp tấp, phạm một lỗi lầm và làm công ty lỗ 8 triệu USD trong 20 phút. Cả phòng làm việc áy náy nhìn anh ta dọn đồ đạc, sẵn sàng để bị đuổi. Nhưng khi anh nộp đơn từ chức, ông sếp của anh lại la mắng anh thậm tệ," Công ty vừa bỏ ra 8 triệu USD để trả học phí cho cậu, giờ cậu dám bỏ việc hả? Lo về bàn làm việc, dùng cái đầu tốt hơn và gắng kiếm lại cho công ty số tiền cậu làm mất." Ông sếp này hiểu về "thất bại". Không lạ gì khi anh nhân viên đó trở nên một siêu sao của Merrill Lynch trong những năm kế tiếp.
Một anh bạn giáo sư của đại học Thanh Hoa hỏi tôi về nghịch lý lạ lùng nhất tôi đã trải nghiệm ở xã hội Trung Quốc, "Tôi thấy ở đây, người dân không xấu hổ vì ăn cắp hay nói dối; mà lại xấu hổ vì thất bại hay nghèo khó. Nó đi ngược với tất cả tư duy và chuẩn mực về đạo đức mà tôi đã được dạy dỗ từ bé."
Hiện tượng che dấu vì xấu hổ với thất bại thể hiện rõ ràng nhất trong việc xử lý nợ nần của doanh nghiệp. Tôi nhớ cách đây 25 năm, tôi và ông sếp đã kinh hãi khi một khách hàng người Nhật đã tự vận vì một món nợ 4 triệu USD ông không trả nổi. Với ngân hàng đầu tư mà chúng tôi làm công, 4 triệu USD là một món tiền không lớn, tôi chỉ cần viết một báo cáo 2 trang với chữ ký phê chuẩn của ông sếp là mọi hồ sơ sẽ được xếp lại. Chúng tôi phải đi diều trị tâm lý sau đó vì 2 người đều nghĩ là mình có "tội" hay "lỗi" trong sự cố này.
""Thất bại" là một điều đáng khen ngợi, ngay cả hãnh diện. Nó nói lên lòng can đảm của con người dám làm, nó biểu hiện sự kiên nhẫn của tinh thần phấn đấu."
Khắp Á Đông, không doanh nhân nào muốn mổ xẻ hay đào bới chuyện nợ nần hay "thất bại" đã qua. Không ai muốn ngồi xuống giải thích với các chủ nợ hay cổ đông đối tác về những lý do hay yếu tố đã gây nên sự cố. Mọi người, kể cả chủ nợ, chỉ ao ước là tai nạn này sẽ biến mất, mọi điều tiếng im bặt và tất cả quay về với  đời sống hàng ngày như chuyện đó không hề xảy ra.
Cá nhân tôi cũng đã đối diện với vực thẩm của phá sản nhiều lần trong thương nghiệp. Vào đầu thập niên 80's, tôi rất hồ hởi lạc quan khi kiếm tiền nhanh chóng vô tội vạ với địa ốc từ những năm 70's. Tôi và vài người bạn gom hết vốn, khoảng 6 triệu USD, đầu tư xây dựng 220 biệt thự tại Scottsdale, Arizona. Khi lãi suất ngân hàng lên hơn 20% một năm, chúng tôi không bán được một biệt thự nào, và phải trả hơn 27 triệu USD cả vốn lẫn lời đã đến kỳ hạn. Luật sư tôi khuyên nên tránh mặt các chủ nợ và khai phá sản để toàn bộ tài sản bị tòa phong tỏa khoảng 2 năm, rồi chờ đợi tình thế đảo ngược. Nhưng căn bản đạo đức cá nhân không cho phép tôi làm vậy.
Tôi triệu tập một hội đồng các chủ nợ (creditors' committee), trình bày trung thực các tài sản và nợ nần, của cá nhân tôi lẫn công ty. Tôi chịu hoàn toàn trách nhiệm và sẵn sàng giao toàn bộ tài sản mà không làm khó khăn để họ rộng đường thanh lý và các món nợ khỏi bị xấu thêm với thời gian. Bù lại, tôi không phải khai phá sản (có ảnh hưởng xấu đến lịch sử tín dụng cá nhân trong 7 năm) và không bị kiện cáo thêm về bất cứ lý do gì. Trong tài sản cá nhân, tôi thậm chí còn ghi rõ 2 bức tranh nổi tiếng (trị giá hơn 500.000 USD), bộ sưu tập viết máy (trị giá hơn 400.000 USD) và 4 chiếc xe hơi thể thao classic (trị giá hơn 1,5 triệu USD). Đây là các khoản tài sản mà tôi có thể dễ dàng che dấu.
Các chủ nợ trân trọng sự thành thực và can đảm của tôi. Họ dễ dãi chấp nhận mọi điều kiện, còn cho tôi giữ lại bộ sưu tập viết máy và một chiếc xe Porsche. Sau đó, họ bắt tôi phải đi ăn tối ở một nhà hàng sang trọng nhất Los Angeles, và chúng tôi cùng ca bài My Way trong thân tình. Một chủ nợ 6 năm sau còn đầu tư vào công ty Hartcourt của tôi hơn 2 triệu USD và chúng tôi trở thành những người bạn thân cho đến nay.
Trung thực, minh bạch và cởi mở
Một điều cần ghi nhớ là hiện nay suy nghĩ và kỳ vọng của các chuyên gia Á Đông lớn lên trong môi trường tài chánh toàn cầu đã thay đổi nhiều. Phần lớn, họ đã tốt nghiệp ở các đại học Âu Mỹ, sống và làm việc một thời gian dài tại các định chế đa quốc gia, nên văn hóa và tư duy của họ thường khác nhiều so với các quản trị viên vẫn còn vướng mắc với thời xa cũ.
Tôi được vài con nợ mời làm tư vấn để thương lượng với các chủ nợ về giải pháp phá sản êm thấm. Tôi luôn nói rằng tôi không đoan chắc là các chủ nợ của bạn sẽ dàn xếp tốt đẹp với ban quản trị về giải pháp sau cùng hay sẽ hoan hỉ mời ban quản trị đi ăn uống linh đình. Nhưng tôi tin chắc là "trung thực", "minh bạch" và "cởi mở" là ba yếu tố cần thiết để việc tái cấu trúc công ty được hoàn tất như mong ước. Mọi hành xử ngược lại, sẽ chỉ gây ra những hậu quả trái với quyền lợi của mọi phe nhóm.
"Life is not how to survive the storm but how to dance in the rain" (Sống không phải để được cứu vớt trong trận bão, mà sống để được nhảy múa trong cơn mưa.)
Tôi hy vọng là giới doanh nhân trẻ của Việt Nam sẽ không bị sự xấu hổ vì sợ "thất bại" làm chùn chân khi tìm giải pháp sáng tạo và năng động cho công việc cùa mình. Thomas Edison "thất bại" hơn 2 ngàn lần trong các thí nghiệm trước khi sáng chế ra bóng đèn điện. Nếu ông ta xấu hổ, có lẽ nhân lọai vẫn phải đốt đèn cầy mỗi đêm. Tôi có một câu viết đóng khung trong phòng làm việc ở Thượng Hải do một người bạn tặng, "Life is not how to survive the storm but how to dance in the rain" (Sống không phải để được cứu vớt trong trận bão, mà sống để được nhảy múa trong cơn mưa.) Tôi sẽ kính tặng lại cho ban quản trị của một công ty nào biết vượt sóng thành công sau cơn bão.
T.S Alan Phan là Chủ Tịch Quỹ Đầu Tư Viasa tại Hong Kong và Thượng Hải. Du học Mỹ từ năm 1963, ông đã làm việc tại nhiều công ty đa quốc gia ở Phố Wall và phát triển công ty Hartcourt của mình thành một tập đoàn niêm yết trên sàn Mỹ với thị giá hơn 700 triệu USD. Ông sống và làm việc tại Trung Quốc từ năm 1999. TS. Phan tốt nghiệp BS tại Penn State (Mỹ), MBA tại American Intercontinental (Mỹ), Ph.D tại Sussex (Anh) và DBA tại Southern Cross (Úc).