Monday, January 26, 2009

Nhìn lại thăng - trầm của TTCK Việt Nam trong 2008


Sự thăng trầm không bình thường của TTCK Việt Nam từ năm 2006 đến nay nếu bình tĩnh nhìn nhận có thể coi là hiện tượng không quá đặc biệt và cũng thường gặp phải ở nhiều quốc gia.

Sự thăng trầm của thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam từ năm 2006 đến nay đã đem lại “ngỡ ngàng” cho không ít nhà đầu tư (NĐT), nhất là khi chỉ số Vn-Index có những khi xuống dưới 300 điểm. Tuy nhiên, tại Hội thảo khoa học chính sách giải pháp phát triển TTCK Việt Nam vừa diễn ra tại Hà Nội, có chuyên gia lại cho rằng đây là hiện tượng bình thường của TTCK.


Sau khi chỉ số VN-Index đã sụt giảm 68% trong năm 2008, chúng tôi tin rằng giá cổ phiếu đã phản ánh gần như tất cả các yếu tố tiêu cực có thể sẽ còn kéo dài trong 6 tháng tới.


Nhìn lại thăng - trầm của TTCK Việt Nam

TTCK Việt Nam bắt đầu hoạt động ngày 20/7/2000. Sau một vài năm phát triển cầm chừng, năm 2006 chứng khoán Việt Nam bước vào thời kỳ hoàng kim. Chỉ tính trên thị trường cổ phiếu, tổng giá trị vốn hóa thị trường năm 2006 tương đương 22,7% GDP.

Số công ty niêm yết tăng gần 5 lần, từ 41 công ty năm 2005 đã lên tới 193 công ty, số tài khoản giao dịch đạt hơn 10 vạn gấp 3 lần năm 2005 và 30 lần so với 6 năm trước. Trong vòng một năm, chỉ số Vn-Index tăng hơn 500 điểm, từ hơn 300 điểm cuối 2005 lên 800 điểm cuối 2006.

Năm 2007, với sự gia tăng không ngừng số DN niêm yết, các công ty chứng khoán, số tài khoản mới được mở, TTCK Việt Nam có bước phát triển mạnh mẽ.

Tổng mức vốn hóa thị trường vào cuối năm 2007 đạt 40% GDP, so với mục tiêu đề ra cho năm 2010 chỉ là 10%. Vn-Index đạt đỉnh 1.170 điểm vào ngày 31/3/2007 và giảm xuống còn 927 điểm vào ngày 31/12/2007. Năm 2007 cũng là năm các NĐT nước ngoài đổ vào TTCK Việt Nam một lượng tiền kỷ lục lên tới 5,5 tỷ USD.

Bước vào năm 2008, TTCK Việt Nam rơi vào sụt giảm trầm trọng. Từ đầu năm 2008 đến cuối tháng 12 Vn-Index đã mất hơn 600 điểm, xấp xỉ 70% (từ 921,07 điểm vào ngày 2/1/2008 đến 30/12/2008 còn 310,61 điểm).

Mặc dù khối lượng cổ phiếu tăng lên đáng kể nhưng giá trị cổ phiếu giảm xuống, giá trị vốn hóa thị trường đã lùi về con số dưới 20% so với GDP. Tính thanh khoản của thị trường suy giảm nghiêm trọng.

Năm 2008, các bong bóng đầu cơ liên tục bị nổ vỡ

2008 là năm mà các bong bóng đầu cơ liên tục bị nổ vỡ. Các bong bóng này đã bắt đầu hình thành từ năm 2005 do tín dụng quá mức trong hệ thống ngân hàng.

Quyết định số 03 của Chính phủ về giới hạn cho vay kinh doanh chứng khoán đã được thực thi vào tháng 06/2007 và đây chính là dấu hiệu khởi đầu cho một loạt các chính sách thắt chặt tín dụng. Trong suốt năm 2008, cán cân rủi ro đã bị đẩy nghiêng về phía thị trường bất động sản, nơi đã có nhiều hoạt động đầu cơ hơn hẳn.

Vào đầu năm 2008, các chính sách của Chính phủ chủ yếu tập trung vào kìm hãm tính thanh khoản trên thị trường tín dụng. Việc tăng nhanh chóng tỷ lệ dự trữ bắt buộc vào tháng 1/2008 và phát hành tín phiếu bắt buộc vào tháng 03/2008 khởi đầu cho những nỗ lực kiềm chế sự tăng trưởng quá mức của dòng vốn đầu tư nước ngoài đổ vào Việt Nam.

Một trong những tác động phụ của sự tăng trưởng quá mức này là lạm phát gia tăng. Tỷ lệ lạm phát đã bắt đầu tăng tốc vào cuối năm 2007 và vào tháng 8/2008 đã vọt lên đỉnh cao 28% so với cùng kỳ năm 2007.

Ngay lập tức, việc kìm hãm đột ngột tính thanh khoản đã tác động đến thị trường chứng khoán và cuối cùng là thị trường tín dụng, nơi tỷ lệ dư nợ cho vay đã tăng vọt từ 71% GDP vào đầu năm 2007 lên gần 100% GDP vào quý 1/2008.

Do cú sốc về tính thanh khoản này lan tỏa đến hầu hết các loại tài sản và toàn bộ nền kinh tế nên giá bất động sản bắt đầu đảo chiều vào quý 1/2008 và lượng giao dịch bất động sản đã giảm 90%, phản ánh tình trạng tương tự tại thị trường bất động sản Hồng Kông và Singapore.

Đồng thời, tình trạng mất cân đối cũng bắt đầu xuất hiện trên thị trường ngoại hối. Tỷ giá hối đoái trên thị trường tự do đã vượt quá xa so với biên độ giao dịch USD/VND cho phép, dẫn đến lạm phát nhập khẩu tăng và làm tăng thêm gánh nặng cho nền kinh tế trong nước vốn đang phải đối đầu với nhiều thử thách.

Trong 6 tháng đầu năm 2008, tiền đồng (VND) trở nên khan hiếm do các đơn vị nhập khẩu găm giữ VND để đầu cơ trong khi ngân hàng từ chối mua USD đồng thời bán ngoại tệ này.

Trong khi đó, các nhà đầu tư nước ngoài lại không mua được số lượng VND cần thiết để đầu tư. Điều này cuối cùng đã tạo ra tình trạng mất cân đối kéo dài. Đồng USD từ dòng vốn đầu tư nước ngoài vốn đã bị siết chặt lại được bơm vào nhập khẩu (khiến thâm hụt thương mại tăng vọt).

Không có gì đáng ngạc nhiên khi thâm hụt thương mại bắt đầu tăng với mức độ chưa từng thấy. Trong vài tháng đầu năm 2008, mức thâm hụt này đã tăng gần 400% so với cùng kỳ năm ngoái và mức thâm hụt hàng tháng đã tăng vọt lên gần 3,3 tỷ USD vào tháng 03/2008.

Vì vậy, các nhà đầu tư nước ngoài càng trở nên lo lắng nhiều hơn trước tình hình nóng bỏng này. Cũng trong tháng 03/2008, thị trường tiền tệ lại phải chịu thêm một cú sốc nữa khi tỷ giá USD/VND nhảy vọt lên 5% chỉ trong vài ngày, từ dưới mức sàn lên cao hơn biên độ giao dịch cao.

Trong cơn hoảng loạn, thị trường vốn đã bắt đầu có những phản ứng khi giá cổ phiếu chạm đáy và các ngân hàng gặp khó khăn khi muốn thanh lý các cổ phiếu mua nợ. Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (SSC) đã phản ứng lại bằng cách giảm biên độ giao dịch chứng khoán từ 5% xuống còn 1%.

Tuy nhiên, sự kết hợp của các biên độ giao dịch giảm với một số đề xuất như tạm đóng cửa thị trường chứng khoán hoặc dùng nguốn vốn công để giải cứu thị trường... chỉ làm mai một thêm niềm tin của nhà đầu tư.

Thị trường nợ của Việt Nam cũng chịu chung số phận trong cuộc khủng hoảng này. Độ rủi ro của trái phiếu Chính phủ tăng vọt, đẩy mức sinh lời trái tức lên trên 20% và các hợp đồng hoán đổi tín dụng phá sản (CDS) trở nên có giá nhất trong khu vực.

Bất chấp niềm tin của nhà đầu tư bị suy sụp, các biện pháp kiểm soát nguồn vốn của Chính phủ lại giới hạn dòng chảy ra trực tiếp của đồng USD.

Sự can thiệp của Chính phủ và các gói giải pháp nhằm khôi phục niềm tin của nhà đầu tư đã bắt đầu có tác dụng vào giữa năm 2008 khi các hoạt động đầu cơ tiền tệ và hàng hóa được kìm hãm, các chính sách tiền tệ và tài chính được áp dụng.

Thâm hụt thương mại hàng tháng đã giảm mạnh xuống còn chưa đến 1 tỷ USD vào đầu tháng 7/2008.

Chỉ số VN-Index đã hồi phục trong ngắn hạn vào mùa hè khi VN-Index tháng 08/2008 tăng 19,4% - mức tốt nhất trên thế giới. Tuy nhiên, hiệu ứng lan tỏa của đợt khủng hoảng tài chính toàn cầu đã bắt đầu tác động đến Việt Nam trong 4 tháng cuối năm khi sự sụp đổ của Ngân hàng Đầu tư Lehman Brothers (ở Mỹ) làm khởi phát một đợt khủng hoảng trong hệ thống tài chính thế giới.


Cơ hội trong 6 tháng đầu năm 2009

Chắc chắn sẽ có nhiều cơ hội lớn trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong 12 tháng tới. Giá cổ phiếu niêm yết đã phản ánh tất cả các yếu tố tiêu cực mà chúng tôi dự đoán có thể vẫn tồn tại trong thời gian tới, và giá cổ phiếu sẽ bắt đầu hồi phục trước khi nhận được sự hỗ trợ của các chỉ số kinh tế.

Các giải pháp phát triển kinh tế bền vững của Việt Nam không hề đơn giản. Tuy nhiên, trong vòng 2 năm tới, tỷ lệ tăng trưởng của Việt Nam vẫn sẽ cao hơn hẳn so với các nước phát triển trên thế giới. Các khoản đầu tư, vào lĩnh vực hạ tầng chẳng hạn, sẽ đem lại tỷ suất lợi nhuận trên vốn cao hơn về lâu dài.

Việc thực hiện cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước theo giá thị trường, gỡ bỏ các rào cản đối với nhà đầu tư nước ngoài và tăng hạn mức sở hữu chứng khoán đối với nhà đầu tư nước ngoài chỉ là một số giải pháp giúp thu hút thêm sự chú ý của các nhà đầu tư chiến lược dài hạn.

Diễn biến thực tế của VN-Index và nền kinh tế sẽ phần nào lệ thuộc vào khả năng thu hút các nguồn vốn đầu tư nước ngoài hiện đang gặp rất nhiều rủi ro.

Điều quan trọng là Việt Nam cần có các chính sách minh bạch và nhất quán với các gói hỗ trợ thích hợp để kích thích tăng trưởng. Nếu không, tương lai trước mắt của Việt Nam sẽ kém rõ ràng và tình trạng bất ổn sẽ tạo thêm nhiều rủi ro khác.

Các gói giải pháp kích thích tài chính có thể sẽ là các chất xúc tác chính hỗ trợ sự tăng trưởng trong nước nhưng điều này đòi hỏi phải có các khoản tài trợ để bù đắp mức thâm hụt.

Trong khi đó, việc tái cơ cấu hệ thống tài chính và điều chỉnh tài sản trong bảng cân đối kế toán là cần thiết hơn cả để hình thành một nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững về sau.

Ngoài ra, cũng cần phải điều chỉnh biên độ tỷ giá theo hướng linh hoạt hơn để giảm bớt sự biến động của tỷ giá hối đoái do việc cố định tỷ giá USD sẽ làm giảm tính linh hoạt tiền tệ và đã gây khó khăn cho cạnh tranh xuất khẩu vào nửa cuối năm 2008.

Kim ngạch xuất khẩu tháng 11/2008 chỉ tăng 4% so với cùng kỳ năm ngoái từ mức đỉnh 68% so với cùng kỳ năm ngoái trong tháng 07/2008. Chỉ số VN-Index hiện đang quay về gần mức hấp dẫn hơn với P/E hiện tại đạt 7,9x so với P/E cao nhất 22x trong năm 2008.

Người viết tin rằng trong 6 tháng đầu năm 2009 sẽ có rất nhiều cơ hội để mua cổ phiếu của các công ty tốt.

Tuy nhiên, thị trường bất động sản có thể sẽ cần thêm nhiều thời gian hơn nữa để hồi phục sau khi bị đóng băng do hậu quả của đợt bùng phát tín dụng.

Những người muốn bán nhà (nhất là các sản phẩm nhà ở cao cấp) sẽ khó có thể bán được, còn những nhà đầu tư muốn mua cũng sẽ gặp khó khăn do việc giới hạn tiếp cận các nguồn vốn vay mà chúng tôi dự đoán sẽ kéo dài sang năm 2010.

Ngoài ra, với mức sinh lợi trái tức hấp dẫn, các trái phiếu Chính phủ có mức sinh lợi dưới 10% sẽ kém hấp dẫn hơn sau đợt hồi phục trên thị trường trái phiếu vào cuối năm 2008 bất chấp lãi suất có thể sẽ tiếp tục giảm nhẹ vào đầu năm mới.

Chúng tôi sẽ xem xét và chọn lọc mua các cổ phiếu sau khi các đợt bán tháo cổ phiếu làm giá cổ phiếu giảm trong ngắn hạn.

Tóm lại, chúng tôi tin rằng sẽ có rất nhiều cơ hội trên thị trường chứng khoán trong 6 tháng đầu năm 2009.

Chúng tôi sẽ tiếp tục quan tâm đến các doanh nghiệp có ít rủi ro, hoạt động trong lĩnh vực hàng tiêu dùng trong nước có khả năng tạo ra dòng tiền ổn định và tài sản vững mạnh. Cũng sẽ có một vài cơ hội hấp dẫn đối với các cổ phiếu trong lĩnh vực hạ tầng đem lại giá trị cao và khả năng cạnh tranh mạnh.


Các chuyên gia nói gì?


Theo ông Lê Hải Mơ - Viện Khoa học tài chính: Sự thăng trầm không bình thường của TTCK Việt Nam từ năm 2006 đến nay nếu bình tĩnh nhìn nhận có thể coi là hiện tượng không quá đặc biệt và cũng thường gặp phải ở nhiều quốc gia.

Cũng không phủ nhận những nguyên nhân chủ quan và khách quan của vấn đề, nhất là năm 2008 do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu, do khó khăn của nền kinh tế trong nước buộc phải điều chỉnh mạnh nhiều chính sách kinh tế - tài chính - tiền tệ. Điều ông Lê Hải Mơ đánh giá cao là mặc dù trong giai đoạn 2007-2008 TTCK Việt Nam diễn biến khá phức tạp nhưng sự tồn tại và vận hành an toàn của thị trường ngay cả khi nền kinh tế lâm vào khó khăn đã chứng tỏ về cơ bản Việt Nam bước đầu thành công trong việc tổ chức vận hành và quản lý TTCK.

Bàn về những diễn biến trên TTCK, tiến sỹ khoa học Nguyễn Thị Hiền cho rằng: Làm nên sự sụt giảm mạnh của chỉ số chứng khoán năm 2008 có yếu tố ảo của TTCK năm 2006 và 2007. Với mức tăng Vn-Index năm 2006 là 147% cộng với hai tháng đầu năm 2007 là 27% thì việc VN-Index “rơi” xuống dưới 300 điểm vào những ngày cuối năm 2008 là điều tất yếu phải xảy ra.

Đây sẽ là tiếng chuông cảnh tỉnh các cơ quan quản lý nhà nước và các NĐT đã quá say sưa với sự khởi sắc của TTCK trong một thời gian dài mà quên mất thực tế là vốn kinh doanh chứng khoán trong giai đoạn này đã bắt đầu có yếu tố “ảo” (vay nóng, vay ngân hàng, thậm chí cả cầm cố chứng khoán) chứ không phải phần lớn là vốn tự có (tiền sở hữu cổ phần ưu đãi, tiền nhàn dỗi và tiền bán hoặc thế chấp tài sản) như thời kỳ đầu.

PGS, TS Nguyễn Đình Tài - Viện Quản lý kinh tế trung ương trong bài tham luận của mình cũng đã lý giải: Việc Vn-Index rớt giá mạnh như hiện nay cũng giống như hiện tượng một quả bóng “xì hơi” sau một thời gian “căng to”. Đây cũng là biểu hiện của một thị trường mới hình thành và chưa chuyên nghiệp, các NĐT vẫn còn chịu ảnh hưởng nặng bởi “tâm lý đám đông”.

Điều này cũng thể hiện ở 90% NĐT là những cá nhân, mặt khác, những diễn biến của TTCK phần nào chứng tỏ sự thiếu hoàn chỉnh của hành lang pháp lý và sự mất cân đối trong quan hệ cung - cầu.

Ý kiến chung của các chuyên gia cho rằng, Chính phủ nên thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa tiến trình cổ phần hóa các DN lớn của Nhà nước để lượng cung hàng hóa đưa ra thị trường trong thời gian tới là những sản phẩm tốt, có chất lượng, thu hút sự quan tâm của các NĐT. Đây cũng là mong đợi của nhiều NĐT và cơ quan quản lý, nhằm đẩy mạnh phát triển một TTCK bền vững.

Thursday, January 22, 2009

Mua bán chứng khoán có phải là zero-sum game?

(ĐTCK) Đầu tư chứng khoán, như tất cả các kênh đầu tư khác, đều thể hiện tính chất của một trò chơi, trong đó luôn có người thắng kẻ bại. Câu hỏi đặt ra với nhiều NĐT là: trong đầu tư mua - bán chứng khoán (stock trading) có khi nào tất cả NĐT đều thu lợi, hay ngược lại, tất cả đều bị thua lỗ? Sự hoang mang của NĐT đối với vấn đề này càng lớn trong tình thế suy giảm thị giá của hầu hết mã cổ phiếu trong hơn 1 năm vừa qua.

Để trả lời câu hỏi quan trọng này, bạn hãy nhớ lại phương thức hoạt động của TTCK. Nói một cách đơn giản nhất, TTCK là một cái chợ, trong đó người mua và người bán thỏa thuận mua - bán hàng hóa là những cổ phiếu niêm yết. Sự khác biệt chính của TTCK với một cái chợ truyền thống là trong TTCK, người mua cũng chính là người bán và ngược lại. Các công ty niêm yết đóng vai trò như một đầu mối mua bán sỉ, là nguồn cung hàng chính cho thị trường.

Vậy, hãy tự hỏi, có bao giờ bạn gặp một cái chợ, trong đó cả người bán lẫn người mua đều thua lỗ hay không? Tất nhiên là không, vì nếu điều này xảy ra thì chẳng có ai muốn mua - bán gì. TTCK cũng vậy.

Trong TTCK, điều duy nhất quyết định giá cổ phiếu là quan hệ cung - cầu được tạo ra bởi người mua và người bán. Bạn muốn mua cổ phiếu thì phải có người đồng ý bán cổ phiếu ấy cho bạn và ngược lại. Nếu có quá nhiều người muốn mua và không có đủ người muốn bán, giá sẽ tăng. Ngược lại, khi quá ít người muốn mua và quá nhiều người muốn bán, giá sẽ giảm. Khi một giao dịch thành công, tiền từ túi NĐT này chảy qua túi NĐT khác. Do đó, khi một NĐT nhảy lên sung sướng vì thu lợi, thì chắc chắn sẽ có một NĐT khác ôm đầu vì giao dịch sai lầm của mình.

Bạn có thể thắc mắc rằng, trong năm 2008, khi mà VN-Index giảm đến trên 66%, tiền của NĐT chảy đi đâu, vì rõ ràng ai nắm cổ phiếu cũng chắc chắn mất trung bình đến 2/3 giá trị tài khoản?

Hãy hình dung một mô hình đơn giản như sau: một công ty phát hành cổ phiếu ra công chúng với giá 100 đồng. Một NĐT mua cổ phiếu này với dự định bán ra sau 1 tháng khi giá tăng cao. Thật không may là sau 1 tháng, giá cổ phiếu chỉ còn 60 đồng vì thị trường cho rằng, giá 100 đồng quá cao. Như vậy, NĐT đã bị lỗ do quyết định nắm giữ cổ phiếu. Trong khi đó, công ty phát hành cổ phiếu đã thu lợi vì giá trị thực tế được thị trường chấp nhận thấp hơn giá bán của công ty.

Sau một thời gian đắn đo (do chần chừ không chịu cắt lỗ ngay), NĐT quyết định bán cổ phiếu cho một NĐT khác với giá 55 đồng. NĐT thứ hai tin rằng, thị trường đã đánh giá sai giá trị cổ phiếu và hy vọng rằng, sau 1 tháng, thị trường sẽ nghĩ lại và giá cổ phiếu sẽ tăng. Tuy nhiên, sau 1 tháng, giá cổ phiếu chỉ còn 30 đồng.

Sau 2 tháng, tổng kết giao dịch của 3 nhân tố tham gia thị trường như sau:

- Công ty: lợi nhuận 70 đồng.

- NĐT 1: thua lỗ 45 đồng.

- NĐT 2: thua lỗ (dự kiến) 25 đồng.

Bạn có thể nhận thấy ngay tổng giá trị lợi nhuận - thua lỗ của tất cả nhân tố tham gia thị trường là bằng 0.

Mở rộng mô hình này ra cho cả TTCK, bạn sẽ tìm thấy cùng một kết luận.

Vậy, TTCK có thật sự là một zero-sum game? Thực ra, TTCK không phải là một zero-sum game, mà là một negative-sum game. Nghĩa là tính trung bình, khả năng bạn bị mất tiền cao hơn được tiền khi tham gia thị trường. Tại sao?

NĐT muốn tham gia thị trường phải mất nhiều khoản chi phí khác nhau: phí môi giới, phí thông tin… NĐT càng giao dịch mua - bán nhiều, các chi phí này càng gia tăng.

Ở Mỹ và nhiều nước phát triển, chi phí tham gia thị trường vào khoảng 0,5 - 1,5% cho mỗi vòng giao dịch (mua - bán). Chi phí này còn cao hơn ở Việt Nam, do hoạt động của thị trường thiếu ổn định và tính thanh khoản của hầu hết cổ phiếu chưa cao. Nghĩa là, khi vừa đặt một lệnh mua hay bán, bạn đã phải mất một khoản tiền, bất chấp quyết định của bạn là đúng hay sai.

Như thế, chúng ta không nên tham gia TTCK, vì đằng nào về lâu dài cũng sẽ bị thua lỗ? Câu trả lời là đúng và sai. Bạn không nên tham gia TTCK nếu chỉ mua - bán theo cảm tính và không có chu kỳ đầu tư rõ ràng. Bởi vì khi đó, khả năng thua lỗ của bạn cao hơn khả năng lợi nhuận. Bạn có thể kiếm lời từ một vài quyết định may mắn, nhưng nếu tham gia đủ lâu, bạn sẽ không thể tránh khỏi thất bại.

Ngược lại, NĐT nghiêm túc, có phương pháp đầu tư mua - bán hợp lý, có chu kỳ đầu tư rõ ràng, có tâm lý vững vàng thì sẽ có nhiều cơ hội thu lợi từ đầu tư chứng khoán. Theo kinh nghiệm từ những NĐT tên tuổi, tâm lý tốt chiếm đến 70% trong thành công của một NĐT chứng khoán, còn chiến thuật đầu tư chỉ chiếm 30% trong thành công mà thôi. Hiển nhiên, bạn không thể thắng nếu áp dụng một chiến thuật tồi, nhưng dù có một chiến thuật xuất sắc, bạn vẫn chưa thể đảm bảo thành công nếu tâm lý không vững vàng. Bạn nên nhớ rằng, tham gia TTCK tức là tham gia vào một cuộc đấu trí không khoan nhượng với những bộ óc sắc sảo nhất. Cũng như bạn, họ muốn tạo ra lợi nhuận khi tham gia thị trường. Sự thua lỗ của bạn làm nên chiến thắng cho họ. Để tránh được điều này, cách duy nhất là bạn phải sắc sảo hơn họ

Sunday, January 4, 2009

Thursday, January 1, 2009

Chứng khoán thế giới 2008 - một năm đầy sóng gió.

Nhiều nguyên tắc, kỷ lục... của thị trường chứng khoán thế giới đã bị phá vỡ trong một năm đầy sóng gió.

Bước vào năm 2008, kinh tế Mỹ và cả thế giới vẫn “hứa hẹn” sự tăng trưởng dù những lo ngại về một sự bất ổn nền tài chính Mỹ đang manh nha bộc lộ. Thực tế GDP của Mỹ, Nhật, nền kinh tế 15 nước sử dụng chung đồng Euro vẫn đạt mức tăng trưởng trong quý 1.

Thế nhưng, những diễn biến phức tạp trên thị trường hàng hóa cơ bản khi giới đầu cơ gia tăng lũng đoạn đã khiến giá lương thực - thực phẩm tăng vọt, giá dầu tăng đột biến lên 147,27 USD/thùng vào tháng 7/2008..., đẩy lạm phát ở mức cao. Tiếp đó, nhu cầu hàng hóa bắt đầu suy giảm, sản xuất đình trệ, xuất khẩu bắt đầu giảm mạnh. Một cuộc suy thoái kinh tế lộ rõ khi bước vào quý 3/2008, đồng thời nguy cơ giảm phát đang cận kề với nhiều nền kinh tế trên thế giới.

Chính sách tiền tệ của nhiều ngân hàng trung ương đã thay đổi chóng vánh, trong đó Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) đã 6 lần hạ lãi suất cơ bản, đưa mặt bằng lãi suất đồng USD từ 4,25% xuống 0-0,25%, Nhật hạ lãi suất đồng Yên xuống còn 0,1%, ECB hạ lãi suất đồng Euro từ 4,75% xuống 2,5%...

Kinh tế Mỹ nói riêng và thế giới nói chung cũng chịu tác động nghiêm trọng từ việc “bong bóng” thị trường bất động sản Mỹ “xì hơi”, với rủi ro lan tỏa từ Mỹ sang các nước phát triển và toàn cầu, với hệ quả là sự đổ vỡ dây chuyền của hệ thống tài chính.

Sự đổ vỡ và tan rã của hệ thống ngân hàng đầu tư ở Phố Wall là sự thay đổi mang tính chất lịch sử của ngành tài chính thế giới, khi các tên tuổi uy tín như Lehman Brothers bị phá sản, Bear Stearns và Merill Lynch bị thâu tóm, Morgan Stanley và Goldman Sachs phải chuyển đổi sang mô hình ngân hàng tổng hợp (bank holding company).

Hệ lụy của những thương vụ đầu tư trên thị trường nợ dưới chuẩn ở Mỹ là một kết cục tồi tệ tất yếu của nền tài chính Mỹ với 25 ngân hàng thương mại, tiết kiệm bị phá sản - trong đó nổi lên là vụ phá sản của Washington Mutual.

Khủng hoảng cũng gây nên những hệ lụy đau đớn cho thế giới tài chính châu Âu, với sự phá sản của nhiều ngân hàng nhỏ, trong khi nhiều định chế tài chính lớn như UBS (Thụy Sỹ), Royal Bank of Scotland, HBOS (Anh), BNP Paribas (Pháp), Fortis (Bỉ, Hà Lan) vẫn đứng trước sóng gió, cần được giải cứu, tăng vốn... và đang chịu những khoản thua lỗ khổng lồ.

Châu Á cũng không tránh khỏi cơn bão. Riêng ba tập đoàn tài chính hàng đầu của Nhật là Mitsubishi UFJ Financial Group, Mizuho Financial Group, Sumitomo Mitsui Financial Group đã thua lỗ hàng tỷ USD từ các thương vụ đầu tư các tài sản nợ dưới chuẩn của Mỹ.

Ngay cả đến một tập đoàn đầu tư nổi tiếng của Chính phủ Singapore - Tập đoàn Temasek Holdings - cũng lỗ nặng, với các khoản rót vốn vào Phố Wall và khoản tiền đầu tư vào Ngân hàng Barclays của Anh...

Đây là sự thua lỗ mang tính toàn cầu. Sự sụt giảm của thị trường chứng khoán thế giới năm qua quả thực là điều khó tin, nhưng lại là thực tế.

Chứng khoán Âu, Á sụt giảm kỷ lục




Ở châu Á, các thị trường đều mất điểm mạnh từ 40,7% đến 65,9% - cùng đó là hàng nghìn tỷ USD đã bốc hơi khỏi thị trường này.

Chỉ số KOSPI của Hàn Quốc có mức giảm thấp nhất (-40,7%), trong khi chỉ số VN-Index của Việt Nam, chỉ số Shanghai Composite của Trung Quốc giảm mạnh nhất với sự sụt giảm hơn 65% giá trị so với các thị trường được đưa vào so sánh.

Riêng chỉ số Nikkei 225 của Nhật đã giảm tới 42,1% - mức giảm mạnh nhất kể từ năm 1990 (-39%).

Ở châu Âu, chỉ số CAC 40 của Pháp đã giảm mạnh nhất (-42%) và chỉ số FTSE 100 của Anh giảm ít nhất (31,5%). Chỉ số DAX của Đức đã giảm 39,5%.




Nhìn vào biểu đồ trên ta có thể thấy, ở hầu hết các thị trường, ngưỡng giá trị mở cửa năm 2008 cũng gần bằng với ngưỡng cao nhất trong năm, trong khi đó ngưỡng giá trị đóng cửa ngày cuối năm đã cao hơn điểm thấp nhất trong năm một tỷ lệ % nhất định. Như vậy, xu hướng tăng điểm phần nào đã diễn ra vào thời điểm cuối năm.

Trong khi đó, ở biểu đồ dưới đây, chúng ta có thể thấy rõ hơn về xu hướng đường biểu diễn ngưỡng giá trị đầu năm của các chỉ số chứng khoán luôn bám sát ngưỡng giá trị cao nhất trong năm 2008.




Cơn bão tài chính đã tác động mạnh tới thị trường chứng khoán toàn cầu khiến các chỉ số chứng khoán có nhiều ngày giảm trên 10% và có ngày tăng trên 10%, điều được cho là bất thường từ nhiều chục năm nay.

Năm 2008 chứng kiến "nỗi đau lớn" của nhiều nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư cá nhân Trung Quốc, Việt Nam, Ấn Độ, với các khoản tiết kiệm tích cóp nhiều năm và được đưa vào một thị trường chứng khoán còn chưa hoàn chỉnh, nơi yếu tố rủi may vẫn được cho là nhân tố quan trọng của “chiến thắng”.

Phố Wall “tan tác”

Năm 2008, giới đầu tư từng chứng kiến các chỉ số chứng khoán Mỹ đồng loạt tăng trên 11%, một mức tăng “kinh hoàng” trong phiên giao dịch ngày 13/10. Thế nhưng đó chỉ là bề nổi cho một tảng băng chìm.

Trong 5 ngày giảm điểm liên tiếp trước đó từ (1/10-7/10), chỉ số Dow Jones đã mất 1.400 điểm, tương đương mức sụt giảm 13% giá trị và xuống dưới ngưỡng 9.500 điểm. Chỉ số S&P 500 và chỉ số Nasdaq cũng có mức trượt giảm trên 10% sau 5 ngày – mức giảm đi vào lịch sử ở thị trường phát triển nhất thế giới này.

Thời điểm cuối tháng 9 đầu tháng 10 đã tô đậm nhất về bức tranh tối tăm của thị trường chứng khoán Mỹ, trong sóng gió của một cuộc Đại khủng hoảng tài chính, dẫn đến một bầu không khí bi quan tột độ của giới đầu tư.

Chỉ số Dow Jones có lúc đã giảm 42% giá trị trước khi có sự phục hồi và giảm 34,6% so với cùng kỳ năm ngoái, chỉ số S&P 500 giảm 39,3% giá trị, chỉ số Nasdaq hạ 41,5%.

Giá trị vốn hóa toàn thị trường chứng khoán (cổ phiếu) Mỹ mất khoảng 7.500 tỷ USD - mức giảm lớn nhất trong lịch sử thị trường này.

Giá trị cổ phiếu trong 9 ngành cơ bản của chỉ số S&P 500 cũng sụt giảm mạnh, với mức giảm kỷ lục của ngành tài chính, nguyên vật liệu...



Xét riêng 30 cổ phiếu blue-chip trong chỉ số Dow Jones, 28/30 cổ phiếu đều giảm mạnh, chỉ có hai mã chứng khoán của Tập đoàn McDonalds (NYSE-MCD) và Wal Mart Stores (WMT) là có sự tăng trưởng.

Vốn hóa thị trường của 30 cổ phiếu trong chỉ số này đã sụt giảm hơn 1.000 tỷ USD, trong đó cổ phiếu Citigroup, General Motor, General Electric có mức giảm lớn nhất - riêng cổ phiếu General Motor đang đứng trước khả năng bị loại khỏi chỉ số Dow Jones.

Còn nhớ, khi cuộc Đại khủng hoảng kinh tế xảy ra năm 1929, chỉ số Dow Jones và S&P 500 mất 17%. Sang các năm 1930, 1931,1932, chỉ số Dow Jones giảm lần lượt là 34%, 53% và 22%. Đến năm 1933, thị trường chứng khoán Mỹ mới hồi phục với chỉ số Dow Jones tăng 67% và chỉ số S&P 500 tăng 48%.

Trong năm 2008, thị trường chứng khoán giảm mạnh và được ví như thời kỳ năm 1931. Và điều này làm giới đầu tư liên tưởng tới năm 2009 sẽ giống như năm 1932 - khi thị trường chứng khoán sẽ giảm ít hơn năm trước đó.

Theo kịch bản này, 2010 sẽ là năm hồi phục của thị trường chứng khoán Mỹ, giống như sự hồi phục ấn tượng của năm 1933 thế kỷ trước.

Một năm sóng gió của cuộc khủng hoảng tài chính - suy thoái kinh tế toàn cầu đã qua đi, song hệ lụy của nó chắc chắn sẽ vẫn còn để lại cho năm 2009. Nhiều điều khó tin đã xảy ra, mà sử sách sẽ còn lưu giữ.

Toàn cảnh chứng khoán thế giới 2008

(Nguồn: CNBC, Thomson Reuters, Bloomberg )


Nguồn: CNBC, Thomson Reuters

Thị trường chứng khoán 2008 - giá phải trả quá đắt!

“Khi đứng ở thời điểm cuối năm 2007 đầu năm 2008, người ta không ngờ được thị trường lại xuống quá sâu như hiện nay.

Có thể thấy cuối năm 2007 chiều hướng đã không tốt, nhưng ít ai nghĩ nó xấu đến như vậy. Sau Tết âm lịch cũng đã loáng thoáng thấy chiều hướng nó xấu rồi, nhận định có thể rõ nét hơn. Nhưng ngay cả ở thời điểm đó, người ta cũng không có ngờ”.

Trong câu chuyện cuối năm với VnEconomy, nhìn lại một năm đầy khó khăn với thị trường chứng khoán trong nước, ông Huy Nam, chuyên gia chứng khoán độc lập, đã nhận định như vậy.

“Năm 2008 phải trả nợ cho năm 2007”

Vậy theo ông, đâu là những nguyên nhân khiến thị trường có một năm xấu như vậy?

Tôi cho là có hai nguyên nhân. Một là nội tại, “tại tôi”; hai mới là tại khách quan.

Giai đoạn “tại tôi”, có nhiều nguyên nhân cụ thể. Như khi thị trường chuyển từ năm 2007 qua 2008, cuối 2007 đã có những dấu hiệu cho thấy sẽ có sự điều chỉnh; thậm chí cuối 2007 đã có những đợt điều chỉnh mạnh. Tưởng rằng sau những đợt điều chỉnh đó, khả năng nó sẽ đứng lại. Lúc đó hầu như ai cũng hy vọng, cũng như nhiều chuyên gia trong đó có tôi, nó sẽ đứng ở mức 1.000 điểm cuối 2007.

Đó là mức điểm ở thời điểm mà nền kinh tế mình đang mạnh lên, tương đối mạnh. Và đối với một nền kinh tế phát triển mạnh như vậy thì các chỉ số có thể cao hơn mức trung bình của thế giới một chút. Dựa vào một số phân tích, chính bản thân tôi cũng nghĩ như vậy. Và dự tính năm 2008 nó sẽ lên xuống với sự duy trì ở mức tương đối lạc quan.

Nhưng tình hình xấu đi kể từ sau Tết Âm lịch. Nền kinh tế rơi vào lạm phát và chống lạm phát. Những biện pháp mạnh chống lạm phát nó làm ảnh hưởng tới thị trường. Đó là những giải pháp về tiền tệ, thắt chặt quá mạnh. Anh mạnh khỏe, anh ốm cũng phải chịu một liều thuốc mạnh và suy yếu chung.

Thứ hai là các biện pháp về tài khóa, nó cũng làm cho một số hoạt động liên quan đến chứng khoán giảm.

Sau khi thị trường chứng khoán giảm khá sâu, trước tiên là những tập đoàn, công ty nhà nước có tham gia thị trường bắt đầu rút vốn. Thị trường bị hẫng một lượng rất lớn. Điều đó ít ai dự liệu được trong năm 2007 để bước vào năm 2008. Kế tiếp là các tổ chức đầu tư, các doanh nghiệp không phải là những tập đoàn trên, cũng bắt đầu tính toán, cấu trúc lại và rút bớt nguồn tiền ra khỏi thị trường, do giá chứng khoán đi xuống mạnh, ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của họ. Lực lượng rút tập trung đầu năm 2008 làm cho thị trường suy giảm mạnh, kế sau chuyện thắt chặt tiền tệ.

Đó là những vấn đề có tính chất phản ứng của thị trường. Còn nếu xét về những yếu tố mang tính kỹ thuật thì có thể nói thế này, thị trường của năm 2007 được định giá quá cao, nó thể hiện qua hai mặt.

Thứ nhất, đối với các doanh nghiệp cổ phần hóa hoặc niêm yết trên sàn, họ đều đưa ra những mức giá quá cao. Thứ hai, ở phía nhà đầu tư, người ta cũng kỳ vọng quá cao. Hai yếu tố này gặp nhau và đẩy thị trường lên khá cao. Và cuối năm 2007, thị trường đã nhận ra điều đó và có phản ứng.

Ở phía nhà đầu tư rõ ràng là có phản ứng, người ta không chịu mua cao nữa, trong khi cái quán tính hay sự chuẩn bị của rất nhiều công ty để phát hành tăng vốn hay cổ phần hóa thì vẫn tiếp tục triển khai, phát hành hoặc niêm yết giá cao. Khi mà thị trường không chấp nhận nữa mà anh vẫn tiếp tục đẩy ra giá cao như thế thì thị trường buộc phải kéo xuống. Chính lý do đó đã làm cho chỉ số giảm mạnh.

Ngoài ra, một số doanh nghiệp vẫn tiếp tục tranh thủ, vì người ta tiếc, đưa ra thị trường với giá cao để gọi vốn. Đáng chú ý là càng về sau, như quý 4/2007, là những doanh nghiệp lớn như Vietcombank, Bảo Việt… nên mức độ chi phối lớn, kéo thị trường xuống rất nhanh.

Có thể kết luận là năm 2008 phải trả nợ cho năm 2007, xét về vấn đề định giá cao. Đó là vấn đề mặc nhiên của thị trường, nhưng thêm vào đó nó phải nhận thêm cú bồi của các chính sách tiền tệ và tài khóa.

Còn những nguyên nhân khách quan thì sao, thưa ông?

Khi thị trường xuống sâu, nhiều người vẫn chờ đợi cơ hội, tính toán các kế hoạch đầu tư. Ví như hồi đầu tháng 3 JP Morgan tuyên bố sẽ đầu tư vào thị trường chứng khoán Việt Nam khoảng 1 tỷ USD…

Và khi nó xuống dưới 500 điểm, biên độ bắt đầu bị siết lại xuống +/-1%. Thị trường lập tức phản ứng theo hướng tiêu cực. Thời điểm đó tôi cũng đã có nhận định rằng giải pháp đó không phù hợp, nó ảnh hưởng nặng tới thị trường, gần như thanh khoản mất. Nhà đầu tư lớn người ta không tham gia, bởi tham gia vào bị kẹt thì cửa thoát quá hẹp. Nó chặn luôn các dự định đầu tư của nhiều tổ chức khi thấy thị trường đã giảm xuống hấp dẫn.

Lúc đó tôi cũng có khuyến nghị là nên bỏ biện pháp siết biên độ vì thanh khoản kém, chứng khoán xuống những mức có thể xem là hấp dẫn rồi. Và khi biên độ được giãn ra từ từ thì thị trường bật lên khá mạnh. Tới cuối tháng 8, nó từ 366 điểm lên gần 570 điểm.

Như từ cuối tháng 8 và sang tháng 9 lúc đó mới tại khách quan. Thị trường mình vừa mới được hồi phục, một cơ thể vừa ốm dậy, chưa khỏe hẳn thì bị cơn bão khủng hoảng tài chính ập tới. Thị trường chứng khoán thế giới bắt đầu suy giảm mạnh thì Việt Nam không tránh khỏi sự ảnh hưởng, cho tới giờ phút này.

Đó là cú đánh bồi làm thị trường xuống sâu, có lúc xuống còn khoảng 286 điểm và giờ đang lừng khừng trên dưới 300.

Tóm lại, năm 2008, thị trường chứng khoán Việt Nam đã phải trả giá quá đắt. Một là nguyên nhân chủ quan đi đầu, hai là nguyên nhân khách quan. Nếu không có nguyên nhân chủ quan thì nó không nặng thế. Giảm khoảng 70%, quá nặng.

Ông đánh giá thế nào về những phản ứng của cơ quan quản lý trong năm 2008, như thu hẹp biên độ, Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) vào cuộc?

Theo tôi, nhà điều hành thị trường cần tính toán trước các kịch bản, tránh những giải pháp quá tình thế như thời gian qua. Những giải pháp quá tình thế đối với một thị trường nó quá ư nhạy cảm và chuyên biệt thế này đôi khi không giải quyết được vấn đề, đôi khi nó làm cho vấn đề sâu sắc hơn. Ví dụ như việc giảm biên độ như tôi đã đề cập ở trên, có thể đó là điều cần rút kinh nghiệm.

Rồi câu chuyện SCIC can thiệp. Lúc đó tôi cho rằng đó cũng không phải là giải pháp. Tại vì SCIC không phải là một tổ chức chuyên ngành, đặc biệt là xét về đầu tư chứng khoán. Họ là tổ chức quản lý tiền, tài sản của nhà nước. Tất nhiên là họ có chuyên môn về thị trường chứng khoán nhưng kinh nghiệm hạn chế.

Cái thứ hai, anh có tiền chưa chắc đã giải quyết được. SCIC dù sao cũng là một doanh nghiệp, không phải “cây cao bóng cả” để đi bình ổn thị trường. Như đến thời điểm này thì cái quan trọng nhất của họ vẫn là bảo toàn vốn. Họ cũng phải đặt mục tiêu kinh doanh hiệu quả, tối thiểu là phải bảo toàn vốn. Trong kinh tế, bảo toàn không có nghĩa anh giữ 1 đồng đầu năm và cuối năm vẫn là 1 đồng, mà anh phải tính toán để làm sao nó phải làm ra bao nhiêu.

Và khi thủy triều xuống…

Về “quán tính” phát hành mà ông nói đến, theo ông nó có ảnh hưởng đến chất lượng hàng của thị trường không?

Đúng là ngoài quán tính đó cần phải nói thêm về chất lượng. Nó liên quan đến nhiều yếu tố, trong đó có việc đánh giá mình quá cao trong chiều hướng thị trường đang lạc quan, doanh nghiệp đặt ra những kết quả huy động cao và bằng mọi cách để thực hiện được.

Trong năm 2007, nhiều doanh nghiệp đã đạt được điều đó. Cho tới năm 2008, về chất lượng, người ta nói một câu rất đúng là khi thủy triều xuống thì sẽ biết ai tắm mặc đồ như thế nào.

Người ta nói nhiều về Bông Bạch Tuyết, nhưng đó cũng chỉ là một trường hợp thôi. Vì nó quá nặng. Nhưng từ đó cũng có thể đánh giá một vấn đề là sự quan tâm đến chất lượng hàng hóa, đến chất lượng thực sự của hàng hóa thời gian thị trường lạc quan dường như đã bị xem nhẹ, cả từ ba phía.

Một là nhiều nhà đầu tư chưa thực sự quan tâm, đó là lỗi mà tôi cho rằng phải đề cập đến một cách công bằng; nhiều người thấy người ta mua cũng mua theo. Hai là bản thân doanh nghiệp cũng tranh thủ có một lượng huy động cao, bằng mọi cách để đưa giá lên mà chưa đề cao sự xứng đáng hay không với giá trị thực sự của nó. Đó là trách nhiệm từ các doanh nghiệp phát hành. Và các bên khác, như các công ty chứng khoán, tư vấn cũng hầu như xem nhẹ nghiệp vụ đo lường giá trị hàng hóa. Bên cạnh đó là nhiều đơn vị cung cấp những thông tin chính xác, khách quan nhất, ví dụ như các công ty kiểm toán, cũng xem nhẹ vấn đề chất lượng. Bằng chứng là trường hợp của Bông Bạch Tuyết.

Những yếu tố đó đặt ra nỗi lo của thị trường là giá chứng khoán phát hành không phản ánh đúng giá trị đáng có. Năm 2008 cho thấy đến một thời điểm nào đó người ta sẽ quay lại xem giá trị đó một cách thận trọng.

Vẫn phải hỏi một câu cơ bản và đã được đề cập nhiều, theo ông phải làm sao để khắc phục những vấn đề trên, đặc biệt là ở khía cạnh bảo vệ nhà đầu tư?

Tôi tiếc là thời gian qua, khi chủ quan làm cho thị trường sụt giảm, đến khách quan làm cho thị trường lảo đảo, thì mình lại dừng lại nhiều dự tính, hay là những cải thiện hơn về chất lượng thị trường, hỗ trợ thị trường.

Có thể nói nhiều nghiệp vụ có tính chất chuyên ngành, chuyên nghiệp, mức độ cải thiện dường như đứng lại, thậm chí có nhiều tuyên bố của những người nghiên cứu chưa tới, tìm hiểu chưa sâu mà đã lo ngại, dừng lại trong khí đáng lẽ nó phải tiếp tục triển khai để làm cho thị trường tốt hơn.

Tôi lấy ví dụ như sau Chỉ thị 03, tiền vào thị trường bị thắt chặt nhưng không có một giải pháp nào để thay thế cái đó, trong khi đó ở thế giới người ta có, như Margin Trading (giao dịch cho phép nhà đầu tư mượn tiền trước của nhà môi giới - PV). Đó là một trong những công cụ rất tốt, nghiệp vụ tốt hỗ trợ cho thị trường và mang tính chuyên nghiệp cao. Mình cũng có dự tính đó rồi nhưng thấy thị trường trong và ngoài nước như thế nên mới lo và không mạnh dạn làm. Hay xa hơn là các công cụ phái sinh Options, Futures… trong chứng khoán.

Nhưng khi thấy thị trường thế giới như thế, có những người đưa ra những tuyên bố gây lo âu, trong khi cần phải nghiên cứu sâu những công cụ đó để có thể hỗ trợ thị trường. Bản thân con dao nó không có lỗi, khi mình không nghiên cứu kỹ hay hiểu nó thì công dụng của nó mình không dám dùng, thị trường theo đó vẫn cứ đơn điệu, 8 năm rồi nó vẫn cứ đơn điệu, mua rồi giữ đó chờ mai mốt bán, không có công cụ nào để bảo vệ nhà đầu tư hay để họ tự bảo vệ mình; hay các tổ chức có thể sử dụng để có thể bảo vệ thành quả đầu tư của họ, hay ngăn chặn lỗ…

Vẫn còn những thành kiến cản trở

Nhìn về năm 2009, ông có nhận định gì không?

Đoán thị trường theo một tình trạng bình thường thì không ai dám, có thể nó chỉ đúng trong ngắn hạn, dài hạn rất khó, do có nhiều thay đổi mình không thể lường trước được.

Với những yếu tố có thể nhìn được bây giờ thì chỉ có thể nói một cách cổ điển thôi: không thể có diễn biến chỉ một chiều, tới một mức độ nào đó nền kinh tế tự bản thân nó cũng phải tự điều chỉnh.

Những diễn biến của thị trường, theo tôi, tới giờ phút này cũng là quá đủ rồi. Trong chừng mực nào đó, mình thấy diễn biến của các chỉ số, sự tập trung phân tích của nhiều giới để tính toán lại cũng cho mình nhận định là có thể mức hiện nay là sự trả giá vừa đủ rồi.

Có một điều mà tôi có thể nói được là, tuy nó xấu trong năm 2008, nhưng với năm 2009 thì nó là một mức có thể kỳ vọng được. Đây là một thử thách nói chung, nhiều ý kiến cũng đã đề cập, nếu mình co cụm và thận trọng quá mình chịu thiệt, vì thấy nó bật thật sự rồi mới tham gia thì có thể muộn mất rồi. Năm 2008 đã kéo lùi hai năm, biết đâu đây lại là mức khởi đầu trở lại.

Đó là tôi nói mang tính quan điểm nhận định cá nhân của mình thôi.

Riêng có một cái, tôi cho rằng thị trường cần có những công cụ, nghiệp vụ như đã nói để có sự đa dạng, sinh động, giảm bớt sự đơn điệu; cũng như việc xây dựng hành lang, rõ ràng hơn. Nhà đầu tư có thể mạo hiểm, thậm chí biết mạo hiểm nhưng họ mạo hiểm trên cơ sở tính toán chứ không phải mù mù không biết mai mốt nó như thế nào.

Là một người nghiên cứu về thị trường chứng khoán, ông nói gì về vai trò của nó, cũng như những gì đã thể hiện trong năm 2008?

Có một điều rất quan trọng là phải nhìn lại là sự đóng góp của thị trường chứng khoán và vai trò của nhà đầu tư.

Hiện nay rất tiếc là rất nhiều người giữ trọng trách trong doanh nghiệp cũng như quản lý nói chung vẫn không thấy, hoặc thấy chưa hết, cho nên nhiều người vẫn có những nhận định rằng thị trường chứng khoán, giao dịch mua đi bán lại đâu có mang lại ích lợi gì cho xã hội đâu mà quan tâm. Đáng tiếc là hiện nay vẫn có những người như thế! Họ không hiểu! Tôi rất thất vọng!

Thị trường chứng khoán đang bị dị ứng ở những người như thế, thậm chí cả ở thị trường bất động sản. Đó là những cái nhìn hẹp, quá hẹp! Nó cản trở sự phát triển của thị trường. Thành kiến của họ ảnh hưởng tới thị trường. Tôi cho như thế thì thiệt cho nền kinh tế thôi chứ không phải thiệt cho một số người mà họ cho là giàu. Thậm chí cá nhân tôi cho rằng họ giàu được từ chứng khoán một cách chính đáng thì mình vỗ tay ủng hộ.

Quan điểm của tôi, thị trường bất động sản và thị trường chứng khoán là hai thị trường nền. Chỉ khi tôi nói không theo kinh tế thị trường nữa thì thôi. Tôi nhớ cách đây dăm ba năm, đi tìm vốn 10 tỷ bạc thôi, lấy đâu? Nhờ thị trường chứng khoán. Thậm chí nhiều nhà máy lớn hàng trăm tỷ đồng huy động được.

Nhiều ý kiến cho rằng đầu tư chứng khoán là một nghề đòi hỏi sự nghiêm túc về trình độ, công sức cũng như tâm huyết. Năm 2008 còn cho thấy đó là một nghề khắc nghiệt. Ý kiến của ông thế nào?

Đúng, đó là một nghề. Đó là một ý thức quan trọng. Tôi có cùng quan điểm đó.

Saturday, December 27, 2008

8 ngày lịch sử của TTCK Mỹ năm 2008

TTCK Mỹ năm 2008 lập kỷ lục về những mức đáy mới, những lần suy giảm chưa từng có trong lịch sử.


TTCK Mỹ biến động mạnh trong năm 2008 bởi nhà đầu tư dõi theo thông tin về kế hoạch giải cứu, những vụ phá sản, khủng hoảng tín dụng và suy thoái kéo dài.

1. Ngày 29/09/2008: Chỉ số công nghiệp Dow Jones mất điểm chưa từng có

Chỉ số công nghiệp Dow Jones hạ 777,68 điểm tương đương 6,98%

Năm 2008 là năm tệ hại nhất của chỉ số công nghiệp Dow Jones từ năm 1931.

Ngày 02/10/2008, chỉ số công nghiệp Dow Jones bắt đầu phiên giao dịch ở mức 13.261 diểm, tuy nhiên đã hai lần chỉ số này rơi xuống dưới mức 8.000 điểm và hiện đứng ở mức 8.500 điểm.

Ngày 29/09/2008 là ngày tệ hại nhất của TTCK năm nay. Chỉ số công nghiệp Dow Jones hạ gần 800 điểm, mức giảm điểm trong ngày lớn chưa từng có do Hạ Viện Mỹ từ chối kế hoạch 700 tỷ USD cứu ngành tài chính.

2. Ngày 15/10/2008: Mức hạ tính theo % lớn nhất từ năm 1987

Diễn biến chỉ số công nghiệp Dow Jones từ ngày 02/01/2008 đến hết ngày 22/12/2008

Chỉ số công nghiệp Dow Jones đóng cửa ở mức 8.577,91 điểm. Mức hạ 733,08 điểm tương đương 7,87%.

Đến thời điểm này, chỉ số công nghiệp Dow Jones hạ gần 35% và chỉ riêng trong một ngày giao dịch ngày 15/10, chỉ số này hạ tới 7,87%.

Mức hạ này đứng thứ 9 trong số những lần hạ nhiều nhất của chỉ số công nghiệp Dow Jones và là mức hạ sâu nhất từ tháng 10/1987.

Nguyên nhân chính khiến thị trường hạ trong ngày này là một loạt thông tin kinh tế tiêu cực, trong đó có báo cáo cho thấy doanh số bán lẻ hạ nhiều nhất trong 3 năm.

Nguyên nhân khác khiến thị trường hạ là tuyên bố của chủ tịch FED cho rằng kinh tế Mỹ còn lâu mới hồi phục, kể cả khi thị trường tín dụng đã trở lại trạng thái bình thường.

3. Ngày 05 - 06/11/2008: Thượng Nghị Sỹ Obama trở thành Tổng thống Mỹ thứ 44, chỉ số công nghiệp Dow Jones hạ mạnh.

Chỉ số công nghiệp Dow Jones đóng cửa ở mức 8.695,79 điểm, mức hạ 929,49 điểm, tỷ lệ thay đổi - 9,66%.

Hàng triệu nhà đầu tư trên TTCK Mỹ chào đón việc Thượng Nghị Sỹ Obama trở thành Tổng thống Mỹ. Tuy nhiên sau đó họ nhanh chóng tập trung vào nền kinh tế đang yếu kém, chỉ số chính của thị trường sụt giảm liền hai ngày sau cuộc bầu cử.

Ngày 05/11/2008, nhà đầu tư nhận thông tin giới chủ Mỹ cắt giảm nhân công mạnh.

Tin tức u ám về thị trường việc làm tiếp tục được công bố trong ngày 06/11/2008. Cụ thể số lượng người đăng ký thất nghiệp lần đầu tăng cao hơn dự kiến và nhảy vọt lên mức cao nhất trong 25 năm.

Bộ Lao Động Mỹ thời điểm đó công bố nước Mỹ đã mất tới 1,2 triệu việc làm trong năm 2008.

4. Ngày 01/12/2008: Kinh tế Mỹ suy thoái

Chỉ số công nghiệp Dow Jones đóng cửa ở mức 8.149,09 điểm, mức hạ 679,95 điểm tương đương 7,7%.

Cơ quan nghiên cứu kinh tế quốc gia Mỹ (National Bureau of Economic Research) thông báo kinh tế Mỹ đã suy thoái. Cơ quan này còn cho rằng trên thực tế kinh tế Mỹ đã suy thoái từ tháng 12/2007.

Thị trường chứng khoán ngay lập tức mất điểm dù thông tin trên không có gì đáng ngạc nhiên. Tuy nhiên nhiều chuyên gia kinh tế dự đoán tình trạng suy thoái của kinh tế Mỹ sẽ kéo dài sang năm 2009, đây sẽ là khoảng thời gian suy thoái dài nhất và sâu nhất trong lịch sử.

Doanh số của ngày Black Friday không thay đổi được dự báo u ám về doanh số bán lẻ của các chuyên gia và nhà đầu tư.

Nhà đầu tư ồ ạt bán tháo cổ phiếu.

Phiên giao dịch ngày 20/11/2008, đã có lúc chỉ số công nghiệp Dow Jones hạ xuống gần mức 7.500 điểm.

5. Ngày 09/10/2008: Thị trường biến động mạnh vì Bộ Tài Chính Mỹ

Chỉ số công nghiệp Dow Jones đóng cửa ở mức 8579,19 điểm, mức hạ 678,91 điểm tương đương 7,33%.

Chỉ số công nghiệp Dow Jones hạ 2.400 điểm tương đương 22% trong 8 phiên từ ngày 01/10/2008 cho đến ngày 10/10/2008 – mức hạ chưa từng có từ năm 1930.

Ngày 09/10/2008 là ngày chỉ số này hạ mạnh nhất trong chuỗi ngày trên. Nhà đầu tư lo ngại về rủi ro lớn hơn của hệ thống tài chính sau khi Bộ Tài Chính Mỹ công bố nắm cổ phần của các ngân hàng.

Việc này được thông báo chỉ một tuần sau khi Quốc hội thông qua kế hoạch 700 tỷ USD để mua lại tài sản xấu tại các ngân hàng. Dù Bộ Tài Chính không loại bỏ việc mua tài sản xấu ra khỏi kế hoạch, nhưng lại chuyển trọng tâm sang mua cổ phần. Thị trường đầy bất ngờ với điểm mới của kế hoạch.

Chỉ số Chicago Board Options Exchange volatility, chỉ số đo sự sợ hãi của nhà đầu tư, tăng lên mức 64 điểm vào ngày 09/10, đây là lần đầu tiên chỉ số này tăng lên hơn mức 60 điểm. Vào thời điểm cuối tháng đó, chỉ số này tăng lên mức gần 90 và vài tháng sau đó hạ xuống dưới mức 50 bởi chính phủ áp dụng nhiều biện pháp cứu thị trường.

6. Ngày 15/09/2008: Ngân hàng Lehman Brothers sụp đổ, khủng hoảng tín dụng bắt đầu

Chỉ số công nghiệp Dow Jones đóng cửa ở mức 10.917,51 điểm, mức hạ 504,48 điểm tương đương 4,42%.

Thông tin ngân hàng Lehman Brothers sụp đổ nhấn chìm thị trường, nhà đầu tư ồ ạt bán tháo cổ phiếu. Ngân hàng 158 năm tuổi này buộc phải ra đi sau những nỗ lực ứng cứu bất thành.

Thị trường tiếp tục giảm sâu sau khi thông tin cho thấy tập đoàn bảo hiểm lớn nhất thế giới – AIG đang tìm mọi cách để được hỗ trợ . Cuối tuần, chính phủ Mỹ dùng 85 tỷ USD để cứu AIG.

Thông tin khác không kém phần tiêu cực là ngân hàng tiết kiệm lớn nhất của Mỹ - Washington Mutual đang tìm mọi cách để vượt qua khó khăn. Một tháng sau, ngân hàng này sụp đổ, vụ sụp đổ ngân hàng lớn chưa từng có trong lịch sử.

Ngày 15/09 trở thành ngày đánh dấu thời kỳ mở đầu của khủng hoảng tín dụng, việc cho vay đóng băng. Những gì diễn ra buộc FED, Tập đoản bảo hiểm tiền gửi (FDIC), Bộ Tài Chính Mỹ và các nhà hoạch định chính sách kinh tế phải dành hàng nghìn tỷ USD cho các chương trình giải cứu.

7. Ngày 06/06/2008: giá dầu, tỷ lệ thất nghiệp tăng vọt

Diễn biến giá dầu thô từ ngày 02/01/2008 đến hết ngày 23/12/2008

Chỉ số công nghiệp Dow Jones đóng cửa ở mức 12.209,81 điểm, mức hạ 394,64 điểm tương đương 3,13%.

Đây là ngày tệ hại nhất của TTCK Mỹ trước khi khủng hoảng tín dụng thật sự tác động đến thị trường, nhà đầu tư ồ ạt bán tháo cổ phiếu khi giá dầu leo dốc quá nhanh.

Lúc đó giá dầu tăng lên mức 138,54USD/thùng, mức tăng 16USD chỉ trong 2 phiên. Giá dầu thô tăng do Morgan Stanley dự báo giá dầu có thể đạt mức 150USD/thùng vào ngày 04/07/2008.

Trên thực tế, mọi chuyện gần đúng như vậy, giá dầu đạt kỷ lục 147,27 USD/thùng vào ngày 11/07/2008.

Nguyên nhân khác khiến thị trường mất điểm là tiêu dùng của người dân đi xuống khi giá xăng tại Mỹ tăng quá cao. Hậu quả là nhu cầu năng lượng đi xuống và giá dầu sau đó bắt đầu trượt dốc vào cuối mùa hè năm 2008.

Nguyên nhân khác khiến thị trường mất điểm là Bộ Lao Động Mỹ thông báo tỷ lệ thất nghiệp lên mức 5,5% từ mức 5%. Đây là mức tăng tháng lớn nhất của tỷ lệ thất nghiệp trong suốt 20 năm.

Thông báo của Bộ Lao Động Mỹ khiến nhà đầu tư nghĩ đến khả năng kinh tế Mỹ đã suy thoái bất chấp kế hoạch hoàn thuế hơn 100 tỷ USD của chính phủ.

8. Ngày 13/10/2008: TTCK Mỹ tăng điểm mạnh, chấm dứt chuỗi ngày giảm điểm hiếm thấy

Chỉ số công nghiệp Dow Jones đóng cửa ở mức 9.387,61 điểm, mức tăng 936,42 điểm tương đương 11,1%.

Chỉ số công nghiệp Dow Jones tăng 976 điểm trong ngày thứ Hai, ngày 13/10/2008. Chuỗi ngày giảm điểm kinh khủng trước đó kết thúc, chỉ số công nghiệp Dow Jones hạ 2.400 điểm tương đương 22% trong 8 phiên từ ngày 01/10/2008 cho đến ngày 10/10/2008 – mức hạ chưa từng có từ năm 1930.

Nguyên nhân khiến thị trường tăng điểm là một loạt nỗ lực mới của thế giới để giải quyết khủng hoảng tín dụng. Lý do khác là người nắm kế hoạch 700 tỷ USD của Bộ Tài Chính Mỹ thông báo một số chi tiết về kế hoạch này.

Cụ thể, kế hoạch 700 tỷ USD sẽ được dùng không chỉ mua cổ phẩn tại các ngân hàng, chứng khoán đảm bảo bằng thế chấp, mà còn là khoản vay thế chấp, bảo đảm khoản vay mua nhà và hỗ trợ cho nhiều chủ sở hữu nhà ở.

Nhà đầu tư cũng hưởng ứng quyết định bơm vốn và đảm bảo việc cho vay liên ngân hàng của 15 nước châu Âu. Chính phủ Anh thông báo bơm 63 tỷ USD vào hệ thống tài chính.

FED thông báo sẽ cung USD không hạn chế cho nhiều Ngân hàng Trung ương trên thế giới. Cụ thể có 13 Ngân hàng Trung ương được nhận hỗ trợ này.